TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.
Thẩm phán tham gia: Ông Nguyễn Hồng Chương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Mai, ông Nguyễn Quang Hiệp và bà Trần Thị Phương Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 31-7-2024 và quyết định hoãn phiên toà số 56/2024/HSST-QĐ ngày 13-8-2024 đối với bị cáo:
Lê Thị C, sinh năm 1988 tại tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1965; có chồng là Nguyễn Hữu H (đã ly hôn), có 03 con; chồng hiện tại là Phan Văn H1, sinh năm 1985, chưa có con chung; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-6-2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đào Ngọc M, Luật sư của Công ty TNHH L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị hại:
Bà Vũ Thị L; địa chỉ: thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Châu Văn L1; địa chỉ: bon Đ, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Vũ Quốc P; địa chỉ: 2 lô G, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Ông Nguyễn Thái L2; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bà Triệu Thị Thu T; địa chỉ: thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bà Trần Thị Thanh H2; địa chỉ: thôn F, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Lê Nguyễn Đình N1; địa chỉ: ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; có mặt.
Ông Phạm Xuân V; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Bùi Văn H3; địa chỉ: thôn N, xã N' Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; có đơn xin xét xử vắng mặt mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Minh T1, Đại diện theo pháp luật của ngân hàng TMCP V2 - chi nhánh thành phố H. Địa chỉ: I C, Phường D, Quận C, TP Hồ Chí Minh; có mặt.
Người làm chứng:
Ông Trần Cao S1; địa chỉ: tổ dân phố B, T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Ông Trần Đình L3; địa chỉ: thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Bà Trần Thị Thanh N2; địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của Lê Thị C:
Từ năm 2016 đến năm 2020 C nhiều lần vay tiền của bà Vũ Thị L thỏa thuận lãi suất 2%/tháng. Sau nhiều lần vay, trả Chiêm và bà L đối chiếu công nợ, xác nhận C còn nợ bà L 2.534.000.000 đồng, hẹn 05 tháng sau C sẽ trả toàn bộ cho bà L. (BL640-646).
Ngày 01-12-2022 C vay 200.000.000 đồng của anh Châu Văn L1, lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày, thời hạn vay 01 tháng. Đến tháng 4-2023 C đã trả cho anh L1 36.000.000đ tiền lãi, chưa trả tiền gốc (BL: 92; 648-653).
Ngày 20-11-2022, Lê Thị C nói ông Vũ Quốc P có thửa đất tại xã N, huyện K, chủ đất bán với giá 220.000.000đ, có thể mua rồi bán với giá cao hơn để kiếm lời. Ông P chuyển 40.000.000đ đến tài khoản của Lê Thị C để đặt cọc. Ngày 27-11-2022 chuyển 180.000.000đ đến tài khoản của C trả tiền mua đất. Sau đó, C nói chủ đất tăng giá nên không hoàn thành giao dịch, anh P đồng ý để Chiêm quản lý số tiền 220.000.000đ, tìm mua thửa đất khác.
Ngày 04-12-2022 C đưa ra thông tin ông Huỳnh Văn N3 chuyển nhượng 3.500m² đất với giá 200.000.000 đồng và bà Nguyễn Thị L4 chuyển nhượng 4.600m² đất với giá 120.000.000 đồng. Chiêm giới thiệu ông P nhận chuyển nhượng 02 thửa đất trên, ông P đồng ý và chuyển cho C 270.000.000 đồng để đặt cọc. Khi C gặp ông N3, bà L4 để đặt cọc, thời điểm giá đất đang lên giá, vì vậy ông N3, bà L4 không đồng ý chuyển nhượng. Chiêm đã thông bảo cho ông P, đồng ý để cho C tiếp tục giữ 270.000.000 đồng để tìm mua thửa đất khác.
Vào các ngày 30-11-2022, 09-12-2022 và 03-01-2023, C vay 03 lần của ông P 550.000.000 đồng, không thoả thuận lãi suất, thời hạn vay từ 07 đến 10 ngày, ông P đã chuyển tiền đến tài khoản của C. Đến hạn, C không trả tiền cho ông P. Tổng số tiền C nhận của ông P là 820.000.000 đồng.
Ngày 09-3-2023 C vay 200.000.000 đồng của ông Nguyễn Thái L2 không thỏả thuận lãi suất, thời hạn 10 ngày. Đến hạn, C không trả tiền cho ông L2.
Các ngày 13-3-2023 và 18-3-2023 C vay 27.500.000 đồng và 92.000.000 đồng của bà Triệu Thị Thu T, lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày, thời hạn 10 ngày. Ngày 23-3-2023, bà T góp 60.000.000 đồng cho C để đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 59, tờ bản đồ số 40 của ông Nguyễn Văn V1 với giá 220.000.000 đồng, để chuyển nhượng lại cho người khác, hưởng chênh lệch, lợi nhuận sẽ chia đôi. Sau khi đặt cọc cho ông V1 thì C không tìm được người có nhu cầu nhận chuyển nhượng lại thửa đất nên ngày 12-4-2023 C đã chuyển trả lại 40.200.000 đồng cho bà T. Tổng số tiền C đã vay, nhận góp vốn của bà T là 139.300.000 đồng.
Trong thời hôn nhân giữa C với ông Nguyễn Hữu H có tài sản chung là 01 xe ô tô BKS 51G-354.14, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Công ty TNHH T5, đại diện là ông H. Sau ly hôn, C được ông H đưa xe sử dụng. Ngày 31-3-2023 C thế chấp vay 250.000.000 đồng của bà Trần Thị Thanh H2, lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày, thời hạn 15 ngày, đã trả 4.000.000 đồng tiền lãi. Đến hạn, C không trả tiền gốc. Trước khi thế chấp ông H đã thế chấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cho ngân hàng TMCP V2 - Chi nhánh thành phố H để vay vốn kinh doanh, C biết nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Ngày 03-4-2023 C vay 150.000.000 đồng của ông Phạm Xuân V, không thỏa thuận lãi suất, trong thời hạn 10 ngày. Đến hạn, C không trả tiền cho ông V.
2. Hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Lê Thị C:
Năm 2022 Chiêm nhiều lần mượn tiền của anh Lê Nguyễn Đình N1 đến ngày 13-12-2022 C đã chốt nợ và cùng xác định còn nợ anh N1 118.000.000 đồng.
Tháng 11-2022, C cùng Châu Văn L1, Trần Cao S1, Phạm Ngọc Q, Nông Đức T2 góp tiền (mỗi người 10.000.000 đồng), đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 281, 298 diện tích 6.000m² ở thôn N, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông, giá 250.000.000 đồng của ông Nguyễn Đăng Q1, sau đó C tìm người nhận chuyển nhượng lại với giá cao hơn để kiếm lời, khi đến thời hạn nhóm của C không trả đủ tiền chuyển nhượng nên bị mất tiền cọc và ông Q1 không thực hiện việc chuyển nhượng cho nhóm của C.
Chiêm lấy thông tin thửa đất số 281, 298 của ông Nguyễn Đăng Q1, chuyển qua ứng dụng Zalo cho anh Lê Nguyễn Đình N1 nhận chuyển nhượng. Ngày 17-12-2022, C lập tài khoản Zalo tên "S1 béo ci" tự nhắn đến tài khoản Zalo của C nội dung “ông K nợ anh S1 200.000.000 đồng, cấn thửa đất trên cho S1 trừ nợ, S1 muốn bán với giá 240.000.000 đồng, phải đặt cọc trước 150.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thanh toán”. Chiêm chụp màn hình nội dung tin nhắn gửi qua Zalo cho anh N1
Tin tưởng thông tin C đưa ra là thật, anh N1 đồng ý nhận chuyền nhượng 02 thửa đất số 281, 298. Ngày 18-12-2022, C tự viết hợp đồng đặt cọc giả thể hiện nội dung người mua là anh N1, người bán là Trần Cao S1, C tự ký, lăn vân tay, sau đó chụp hình gửi cho anh N1. Ngày 19-12-2022, anh N1 chuyển 60.000.000 đồng đặt cọc đến tài khoản của C.
Tháng 11-2022, ông Hồ Văn M1 nhờ bà Đào Thị B tìm người nhận chuyển nhượng 04 thửa đất của ông M1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 112744, CE 112745, CB 112746, CE 11247, tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Bà B nhờ C tìm người nhận chuyển nhượng đất của ông M1. Lợi dụng sự kiện này, ngày 22-12-2022 C chụp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vị trí, toạ độ, video thực của thửa đất, giá chuyển nhượng 360.000.000 đồng. Ngày 19-12-2022, anh N1 đề nghị nhận chuyển nhượng 04 thửa đất trên với giá 310.000.000 đồng, cho C 10.000.000 đồng tiền hoa hồng, C tự đưa ra thông tin ông M1 đồng ý giá chuyển nhượng và hẹn ngày hôm sau làm thủ tục đặt cọc. Ngày 20-12-2022, C yêu cầu anh N1 chuyển 130.000.000 đồng tiền cọc, anh N1 đã chuyển 140.000.000 đồng đến tài khoản của C (bao gồm tiền cọc và 10.000.000 đồng tiền hoa hồng). Để anh N1 tin tưởng, C đã viết hợp đồng đặt cọc ghi thông tin người bán là ông Hồ Văn M1, người mua là N1, người chứng kiến là C, ghi số tiền chuyển nhượng và tiền cọc rồi chụp gửi qua Z cho N1. Chiêm không nhớ đã sử dụng số thuê bao nào để tự tạo lập 01 tài khoản Zalo lưu tên "Con chú mãi" nhắn tin cho tài khoản Zalo của C, nội dung đề nghị trả trước 180.000.000 đồng tiền mua đất để trả tiền vay ngân hàng lấy giấy chứng nhận, sang nhượng quyền sử dụng đất cho anh N1. Chiêm chụp nội dung tin nhăn gửi cho anh N1, đề nghị anh N1 chuyển 70.000.000 đồng hỗ trợ ông M1 trả tiền lãi ngân hàng. Ngày 02-3-2023 và ngày 07-3-2023, anh N1 02 lần chuyển 260.000.000 đồng đến tài khoản của C.
Ngày 23-12-2022, C thấy 01 bài viết trên nhóm Zalo Bất động sản, của người tên B1 (không rõ nhân thân) muốn chuyển nhượng 01 thửa đất diện tích 1,2 ha, tại thôn N, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, với giá 150.000.000 đồng, kèm ảnh, video, vị trí thửa đất. Chiêm sao chụp thông tin, gửi cho anh N1 thì anh N1 đề nghị giá chuyển nhượng 130.000.000 đồng, C yêu cầu anh N1 chuyển đặt cọc và được N1 chuyển 67.000.000 đồng đến tài khoản của C. Ngày 24-12-2022, C yêu cầu anh N1 chuyển 20.000.000 đồng để chi phí xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cùng ngày anh N1 đã chuyển tiền vào tài khoản của C. Khoảng tháng 02-2023, C thấy 01 bài viết trên nhóm Zalo Bất động sản, của tài khoản Chiêm không nhớ tên, muốn chuyển nhượng 01 thửa đất diện tích 2,9ha, tại xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với giá 280.000.000 đồng, bài viết có ảnh, video, vị trí thửa đất. Chiêm gửi thông tin cho anh N1 thì anh N1 đề nghị giá chuyển nhượng là 210.000.000 đồng, C tự đưa ra thông tin chủ đất đồng ý sang nhượng, yêu cầu đặt cọc 50.000.000 đồng. Ngày 12-02-2023, anh N1 chuyển cho Chiêm 25.000.000 đồng. Tổng số tiền C chiếm đoạt của anh N1 bằng thủ đoạn gian dối là 572.000.000 đồng.
Tháng 12-2022, anh Bùi Văn H3 nhờ C làm thủ tục nhận chuyển quyền sử dụng các thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 146989, DB 146985, DB 146986 từ chị Bùi Thị P1, C đồng ý, ngày 24-12-2022 và 22-3-2023 C yêu cầu anh H3 chuyển 12.300.000 đồng đến tài khoản của C để C đóng tiền thuế, chi phí nộp hồ sơ. Sau khi nhận tiền C đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi chiếm đoạt được tổng số 4.995.600.000 đồng, C sử dụng hết vào mục đích cá nhân và đánh bạc trên Internet. Đến ngày 13-4-2023 Chiêm thay số điện thoại, xóa tài khoản Zalo, khóa tài khoản Facebook và bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến thuê phòng số 508 căn hộ S đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòà sinh sống.
Đến ngày 04-6-2023 C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Đăk Nông bắt giữ tại phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòà.
Kết luận giám định số: 261 ngày 10-7-2023, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Thị C trên 04 cuốn sổ hợp đồng đặt cọc và 01 hợp đồng đặt cọc, gửi giám định so với chữ ký, chữ viết của Lê Thị C là do cùng một người ký và viết ra. Kết luận giám định số: 417 ngày 09-11-2023, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Thị C trên 07 giấy vay, mượn, nhận tiền, cầm bìa và 06 hợp đồng đặt cọc, gửi giám định so với chữ ký, chữ viết của Lê Thị C là do cùng một người ký và viết ra. (Bút lục 418 đến 419). Kết luận giám định số 136, ngày 08/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Đỗ Văn T3 và các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấ số DB 146985, DB 146986, DB 14689, cấp cho bà Bùi Thị P1, là do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành.
Quá trình điều tra, Lê Thị C đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại Lê Nguyễn Đình N1.
Cáo trạng số 32/CT-VKSĐN-P2_ngày 03-07-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố Lê Thị C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Lê Thị C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Lê Thị C phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị C từ 15 đến 16 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị C từ 12 đến 13 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc Lê Thị C phải chấp hành từ 27 đến 29 năm tù.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp mực lăn tay nhãn hiệu Horse không còn giá trị sử dụng.
Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max của Lê Thị C để đảm bảo công tác thi hành án.
Chấp nhận ngày 23-4-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại: 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 146985, DB 146986, DB 14689, cho anh Bùi Văn H3; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 825079, cho ông Phan S2.
Đối với xe ô tô BKS 51G - 354.14 của Lê Thị C đã thế chấp vay vốn tại ngân hàng TMCP V2 - Chi nhánh thành phố H và phát sinh nợ xấu. Vì vậy, ngày 24-4-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã giao cho ngân hàng TMCP V2.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự:
Lê Thị C đã khắc phục một phần hậu quả 55.000.000 đồng cho anh Lê Nguyễn Đình N1. Các bị hại: Vũ Thị L, Châu Văn L1, Vũ Quốc P, Nguyễn Thái L2, Triệu Thị Thu T, Trần Thị Thanh H2, Phạm Xuân V, Bùi Văn H3, Lê Nguyễn Đình N1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt.
Người bào chữa cho bị cáo, Luật sư Đào Ngọc M trình bày: Bị cáo có con nhỏ, quá trình điều tra hợp tác với Cơ quan điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Vũ Quốc P trình bày: Về tội danh và hình phạt đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật, không nhận số tiền 2.000.000 đồng bị cáo khắc phục do chưa tương xứng với thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt.
Bị hại Lê Nguyễn Đình N1 trình bày: Về tội danh và hình phạt đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt.
Các bị hại vắng mặt không thể hiện ý kiến, chỉ yêu cầu Lê Thị C trả lại số tiền đã chiếm đoạt.
Bị cáo không bào chữa, tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập, lưu trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng công khai, phù hợp với các tình tiết, diễn biến khách quan của vụ án. Qua đó xác định:
Từ năm 2016 đến tháng 4-2023 thông qua hình thức vay, mượn, góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Lê Thị C nhận và chiếm đoạt của các bị hại, cụ thể: chiếm đoạt của bà Vũ Thị L 2.534.000.000 đồng; ông Châu Văn L1 200.000.000 đồng, ông Vũ Quốc P 820.000.000 đồng; ông Nguyễn Thái L2 200.000.000 đồng; bà Triệu Thị Thu T 139.300.000 đồng; bà Trần Thị Thanh H2 250.000.000 đồng và ông Phạm Xuân V 150.000.000 đồng. Tổng số tiền Lê Thị C đã nhận và chiếm đoạt của các bị hại là 4.411.300.000 đồng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm...”.
Trong năm 2022 Lê Thị C lấy thông tin về thửa đất số 281, 298 của ông Nguyễn Đăng Q1, bốn thửa đất của ông Hồ Văn M1 đưa ra thông tin gian dối, làm giả giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lên mạng lấy thông tin của người có nhu cầu chuyển nhượng đất để anh Lê Nguyễn Đình N1 tin tưởng nhận chuyển nhượng qua đó C chiếm đoạt của anh N1 572.000.000 đồng. Ngoài ra, tháng 12-2022 bị cáo nhận làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho anh Bùi Văn H3 nhưng đưa ra thông tin gian dối, không thực hiện và chiếm đoạt 12.300.000 đồng. Tổng số tiền Lê Thị C lừa đảo chiếm đoạt của anh Lê Nguyễn Đình N1 và Bùi Văn H3 là 584.300.000 đồng, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên...”
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, mục đích chiếm đoạt tiền của bị hại, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương. Do đó,cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã khắc phục được một phần thiệt hại 55.000.000 đồng cho bị hại Lê Nguyễn Đình N1; Chị gái bị cáo là Lê Thị P2 nộp 2.000.000 tiền khắc phục hậu quả cho bị hại Vũ Quốc P (biên lai số 0000077 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông) nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Xét luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo là có phần phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận Quyết định xử vật chứng số 414/QĐ-CSHS ngày 23-4-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Chấp nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 415/QĐ-CSHS ngày 23-4-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Tịch thu; tiêu hủy: 01 hộp mực lăn tay nhãn hiệu Horse (không còn giá trị sử dụng).
Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max của Lê Thị C để đảm bảo công tác thi hành án.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự:
Buộc Lê Thị C, trả lại số tiền 4.411.300 đồng đã chiếm đoạt cho các bị hại; trong đó trả lại 2.534.000.000 đồng cho bà Vũ Thị L; trả lại 200.000.000 đồng cho ông Châu Văn L1; trả lại 820.000.000 đồng cho ông Vũ Quốc P, được trừ 2.000.000 tiền khắc phục hậu quả bị cáo tự nguyện trả lại cho ông P, còn phải trả 818.000.000 đồng; trả lại 200.000.000 đồng cho ông Nguyễn Thái L2; trả lại 139.300.000 đồng cho bà Triệu Thị Thu T; trả lại 250.000.000 đồng cho bà Trần Thị Thanh H2; trả lại 150.000.000 đồng cho ông Phạm Xuân V.
Lê Thị C phải trả lại số tiền 572.000.000 đồng, được trừ số tiền 55.000.000 đồng đã khắc phục, còn tiếp tục trả lại số tiền 517.000.000 đồng cho ông Lê Nguyễn Đình N1; trả lại 12.300.000 đồng cho ông Bùi Văn H3.
[8]. Về án phí: Buộc Lê Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Hành vi bị cáo khai nhận đánh bạc tại Website G, thời hạn điều tra đã hết nhưng cơ quan Cảnh sát điều tra chưa thu thập được tài liệu chứng cứ để chứng minh. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục kiểm tra, xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau. Lê Thị C khai năm 2023 vay 100.000.000 đồng của Nguyễn Anh T4 quá trình điều tra, xác minh, truy tìm anh T4 không có kết quả, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm. Ông Phan S2, tố giác Bùi Trung H4, Lê Thị C chiếm đoạt tài sản qua hình thức ủy quyền chuyển nhượng thửa đất số H188 và tố giác của bà Phạm Mỹ B2 tố giác Lê Thị C chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng, kết quả kiểm tra xác minh 02 nguồn tin trên xác định là tranh chấp dân sự. Châu Văn L1 đưa Lê Nguyễn Đình N1 đi xem thửa đất số 281, 298 diện tích 6.000m² của ông Nguyễn Đăng Q1, sau đó C thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh N1, kết quả điều tra chứng minh Châu Văn L1 không đồng phạm với C, nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc các bị hại: Vũ Thị L, Châu Văn L1, Triệu Thị Thu T, Trần Thị Thanh H2 cho Lê Thị C vay tiền có thỏa thuận lãi suất. C đã thực hiện việc trả tiền lãi. Tuy nhiên, số tiền lãi các bị hại đã nhận từ Chiêm chưa vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, do đó không có căn cứ để truy cứu về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Lê Thị C phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị C 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng khoản 4 Điều 175; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị C 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 25 (Hai mươi lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05-06-2023).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận Quyết định xử vật chứng số 414/QĐ-CSHS ngày 23-4-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Chấp nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 415/QĐ-CSHS ngày 23-4-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Tịch thu; tiêu hủy: 01 hộp mực lăn tay nhãn hiệu Horse. Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS Max của Lê Thị C để đảm bảo công tác thi hành án. (Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự:
Buộc Lê Thị C, trả lại số tiền 4.411.300.000 đồng đã chiếm đoạt cho các bị hại, trong đó trả lại 2.534.000.000 đồng cho bà Vũ Thị L; trả lại 200.000.000 đồng cho ông Châu Văn L1; trả lại 820.000.000 đồng cho ông Vũ Quốc P, được trừ 2.000.000 tiền khắc phục hậu quả (Theo biên lai nộp tiền số 0000077 ngày 25-7-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông), còn phải trả 818.000.000 đồng; trả lại 200.000.000 đồng cho ông Nguyễn Thái L2; trả lại 139.300.000 đồng cho bà Triệu Thị Thu T; trả lại 250.000.000 đồng cho bà Trần Thị Thanh H2; trả lại 150.000.000 đồng cho ông Phạm Xuân V.
Trả lại 572.000.000 đồng, được trừ 55.000.000 đồng đã khắc phục, còn phải trả 517.000.000 đồng cho ông Lê Nguyễn Đình N1; trả lại 12.300.000 đồng cho ông Bùi Văn H3.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thị C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 112.940.600 (Một trăm mười hai triệu chín trăm bốn mươi ngàn sáu trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vinh |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị C phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị C 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng khoản 4 Điều 175; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị C 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
