Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK SONG

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/9/2024

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuyên và bà Hồ Thị Thu Uyển.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Nga - Thư ký Tòa án.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QÐST – HNGĐ, ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trương Văn N, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do chính đáng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn ông Trương Văn N trình bày: Ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị L đ với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 31 tháng 12 năm 2010, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống chúng tôi có 01 con chung cháu Trương Văn C, sinh ngày 31/3/2012. Lý do ông N làm đơn xin ly hôn với bà L là do quá trình chung sống không hạnh phúc, do hai bên không có sự đồng cảm với nhau, tính cách không không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cải vả nhau, không cùng quan điểm sống trong xây dựng hạnh phúc gia đình, dù đã cố gắng sống hòa hợp và hai bên gia đình cũng đã hàn gắn nhiều lần nhưng mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, đến nay tình cảm không còn, không thể sống chung với bà L được nữa nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau: Về quan hệ hôn nhân: ông N xin được ly hôn với bà L; Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Ông N và bà L có 01 con chung cháu Trương Văn C, sinh ngày 31/3/2012. Tùy theo nguyện vọng của cháu thích ở với ai, nếu ở với mẹ thì tôi sẽ cấp dưỡng nuôi cháu một tháng là 2.000.000 đồng, cấp dưỡng vào ngày mùng 01 hàng tháng dương lịch, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, bắt đầu ngay sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị L: Quá trình giải quyết vụ án bà L không đến Tòa án để làm việc. Qua xác minh tại địa phương được biết bà L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tại Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và hiện có mặt tại địa phương. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và theo quy định của pháp luật nên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bà Nguyễn Thị L t đúng quy định của pháp luật, đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và việc giải quyết vụ án:

  • Về tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

  • Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ tình cảm, con chung; buộc nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Trương Văn N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị L l bị đơn trong vụ án có đăng ký hộ khẩu trường trú tại Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông là nơi bị đơn cư trú, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; quan hệ pháp luật yêu cầu giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Đối với bà Nguyễn Thị L: Trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các văn bản của Tòa án đều được tống đạt hợp lệ (Niêm yết công khai) nhưng bà L không đến Tòa án làm việc nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị Lé đăng k kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, lý do ông N làm đơn xin ly hôn với bà L là do qúa trình chung sống không hạnh phúc, do hai bên không có sự đồng cảm với nhau, tính cách không không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cải vả nhau, không cùng quan điểm sống trong xây dựng hạnh phúc gia đình, dù đã cố gắng sống hòa hợp và hai bên gia đình cũng đã hàn gắn nhiều lần nhưng mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, đến nay tình cảm không còn, không thể sống chung với bà L được nữa nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông N và bà l trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho ông N ly hôn với bà L.

[3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Ông N và bà L có 01 con chung cháu Trương Văn C, sinh ngày 31/3/2012. Hiện nay cháu Trương Văn C đang trực tiếp ở với bà L, nguyện vọng của cháu là tiếp tục xin được ở mẹ. Mặt khác, xét hoàn cảnh thì ông N làm nông, có nhà trong rẫy đường đi lại ra xã và cho cháu C đi học khó khăn, bà L ở ngoài xã đi lại học hành tiện hơn, nên cháu C ở với mẹ đảm bảo việc đi học tốt hơn, ông N thu nhập khoảng 10.000.000đồng/1 tháng nên ông N đảm bảo chu cấp nuôi cháu C đến tuổi trưởng thành. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông N về việc giải quyết quyền nuôi con chung.

[4.] Về tài sản chung và nợ chung: Ông N không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Ông Trương Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật, được trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Văn N được ly hôn bà Nguyễn Thị L “Giấy chứng nhận kết hôn số 101, quyển số: 02/2008, ngày 31/12/2010 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An chấm dứt hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật”.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Văn C, sinh ngày 31/3/2012 cho bà Nguyễn Thị Lê trực t1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về cấp dưỡng: Ông N có trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu C là 2.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng vào ngày mùng 01 hàng tháng dương lịch bắt đầu từ sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật HNGĐ năm 2014.

4. Về án phí: Ông Trương Văn N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và dân sự sơ thẩm là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0001118 ngày 14 tháng 5 năm 2024.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tông đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;

  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;

  • - VKSND huyện Đắk Song;

  • - Chi cục THADS huyện Đắk Song;

  • - Những người tham gia tố tụng;

  • - UBND xã Giai Xuân, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An;

  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Trần Đình Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: c
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger