|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 06/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Kim Loan và bà Đỗ Thị Lan (Nguyên giáo viên).
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Thắng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXX-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lò Văn C; tên gọi khác: không; sinh ngày: 15/11/2006, tại K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện nay: phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp: 4/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Lò Văn G (đã chết); con bà: Lò Thị T; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 27/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lò Văn C: chị Lò Thị T; sinh năm: 1985; nơi thường trú: bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C: ông Trần Quý C1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt.
-
Họ và tên: Lường Văn T1; tên gọi khác: không; sinh ngày: 23/11/2006, tại P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi thường trú: bản L, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện nay: phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lường Văn X và bà Lò Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 27/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lường Văn T1:
- Chị Lò Thị N; sinh năm 1988; nơi thường trú: bản L, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.
- Anh Lò Văn X1; sinh năm: 1987; nơi thường trú: bản L, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn T1: bà Vũ Thị Nguyệt N1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; có mặt.
-
Họ và tên: Hoàng Trung K; tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/5/1981, tại C, Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ E, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hoàng C2; và bà Nguyễn Thị T2; vợ: Đinh Thùy P; có 02 con, con lớn sinh năm 2009 (đã chết), con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 11/01/2008, cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm G1, đến ngày 25/12/2008 hoàn thành, trở về địa phương; ngày 17/9/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả (nay là thành phố C) xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 27/4/2011 chấp hành xong bản án; bị bắt quả tang ngày 27/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Q.
* Người làm chứng: anh Nguyễn Huy N2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: hồi 22 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, tại tổ E, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Lò Văn C và Lường Văn T1 có hành vi bán trái phép 0,144 gam ma túy, loại Heroine cho Hoàng Trung K với giá 200.000 đồng; khi Hoàng Trung K vừa nhận số ma túy trên để sử dụng, thì bị Công an thành phố C bắt quả tang.
Tại phiên toà, các bị cáo Lò Văn C và Lường Văn T1 cùng khai có nội dung sau: C và T1 quen biết nhau vì cùng làm hàn sắt tại thành phố C. Khoảng 22 giờ ngày 27/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nhưng không có tiền nên Lò Văn C rủ Lường Văn T1 bỏ tiền mua ma tuý để sử dụng thì T1 đồng ý. Trên đường đi, C và T1 vào tiệm tạp hoá của Hoàng Trung K tại tổ E, khu F, phường C, thành phố C để T1 mua dép. Tại đây C hỏi K về việc có biết chỗ bán ma tuý không thì K nói không biết và nói với C và T1 nếu mua được ma tuý thì bán cho K 200.000 đồng, thì cả hai cùng đồng ý. Tiếp đó, C và T1 đi đến khu vực nhà nghỉ R, phường C, thì T1 đưa cho C 150.000 đồng, C cầm tiền mua của một người đàn ông không quen biết được 01 túi ma tuý Heroine, sau khi mua được ma tuý, C và T1 mang số ma tuý đó giao cho Hoàng Trung K và nhận của K 200.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: thu trên tay của K đang cầm 01 túi nilon kích thước (4x7)cm bên trong có 01 gói giấy vệ sinh chứa chất bột màu trắng dạng cục, K khai nhận là ma túy H vừa mua của C và T1. Thu trên tay phải của C đang cầm số tiền 200.000 đồng;
- Bản kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của K là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,144 gam ( một phẩy bốn mươi bốn gam).
- Hoàng Trung K khai: K sử dụng ma túy từ năm 2004, do đang có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khi biết C và T1 đi mua ma tuý thì K bảo luôn C và T1 mua được ma tuý về thì bán cho K. Ngày 27/12/2023, do tò mò nên K đi bộ theo sau T1, C đến khu vực gần nhà nghỉ R thì thấy C mua ma túy của một người đàn ông, do trời tối không nhìn rõ mặt. Mục đích K mua ma tuý của T1, C là để sử dụng cho bản thân. Số tiền 200.000 đồng là do K lao động mà có.
Tại phiên toà cả 3 bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSCP ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Lường Văn T1, Lò Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Hoàng Trung K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt Lường Văn T1 mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Lò Văn C mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/12/2023. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Hoàng Trung K mức án từ 13 tháng đến 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/12/2023. Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu và tiêu huỷ: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định và tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) của Lò Văn C là tiền do phạm tội mà có. Miễn án phí cho các bị cáo C, T1 vì hai bị cáo thuộc hộ nghèo.
Tại phiên toà 02 người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C, Lường Văn T1 đồng quan điểm với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ. Song do cả 2 bị cáo có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế nên cả 2 luật sư đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp hơn mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các biên bản làm việc xác định địa điểm phạm tội của Lò Văn C; bản ảnh vật chứng phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Nguyễn Huy N2 về thời gian, địa điểm mà cơ quan công an bắt giữ và thu giữ ma túy của các bị cáo, với kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hồi 22 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, tại tổ E, Khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Lò Văn C và Lường Văn T1 có hành vi bán trái phép 0,144 gam ma túy, loại Heroine cho Hoàng Trung K với giá 200.000 đồng. Hoàng Trung K vừa nhận số ma túy trên để sử dụng, thì bị Công an thành phố C bắt quả tang.
Hành vi của Lò Văn C, Lường Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của Hoàng Trung K đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy đồng thời tiếp tay cho các đối tượng mua bán, nghiện hút ma tuý khác gây mất ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.
- Xét vai trò đồng phạm của 2 bị cáo C, T1 thấy: với tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không bàn bạc từ trước, mà khi K nhờ mua ma tuý, cả hai cùng đồng ý. T1 là người đưa tiền để mua ma tuý, C là người tìm chỗ mua ma tuý rồi cả hai cùng bán cho K với mục đích kiếm lời; C và T1 có vai trò ngang nhau và cùng là người thực hành và phải chịu mức án ngang nhau.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo C, T1 thuộc hộ nghèo, người dân tộc Khơ mú, nhận thức hạn chế, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình. Các bị cáo C, T1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi khi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế nên xem xét áp dụng điều 91, Điều 101 bộ luật hình sự cho 2 bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Xét nhân thân: Lò Văn C, Lường Văn T1 chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; Hoàng Trung K có nhân thân xấu, đã bị đi cai nghiện bắt buộc và từng bị Toà án xét xử nhưng K không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần có mức án nghiêm khắc với K để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249, Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo K là đối tượng không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng. Các bị cáo C, T1 phạm tội trong độ tuổi chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về vật chứng: toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án sau giám định hoàn lại 0,09 gam Heroine đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ; số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Lò Văn C là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
[8] Về án phí: bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo Lò Văn C, Lường Văn T1 thuộc hộ nghèo được miễn án phí.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho 2 bị cáo C, T1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Lò Văn C, Lường Văn T1 phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: L (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 27/12/2023.
Xử phạt: Lường Văn T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 27/12/2023.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Hoàng Trung K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: H1 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 27/12/2023.
Về vật chứng: căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong tại phong bì số 06/KL- KTHS của phòng K1 công an tỉnh Q;
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) theo biên bản giao nhận tài sản số 34/2024/BBBG-CQCSÐTCATPCP ngày 24/4/2024 của cơ quan CSĐT công an thành phố C; tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 93/BB-THA ngày 03/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc Hoàng Trung K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Lò văn C3, Lường Văn T1.
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo C3, T1; Người đại diện hợp pháp của bị cáo T1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lò Văn C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Lan Anh |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò văn C, Lò Văn Th mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý
