Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 -5-2024

V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Sa The.

Các Hội thẩm nhân dân. Ông Tăng Văn Thành.

Ông Trần Huy Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H; Sinh năm 1998; Nơi cư trú: Số N, khu P, ấp N, xã L, huyện T, tỉnh S. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • * Bị đơn: Anh Châu Hoàng N; Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh S. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/01/2024 (BL 01) và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Vào năm 2018, chị và Anh Châu Hoàng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 126, ngày 17/9/2018. Sau khi cưới vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nhau, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mặc dù vợ chồng đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được, nên vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2020 cho đến nay. Chị H xác định trong thời gian chung sống chị và Anh N có một con chung là Châu Ngọc H, sinh ngày 29/01/2019, hiện chị đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nay Chị H yêu cầu được ly hôn với Anh Châu Hoàng N, yêu cầu được nuôi con chung là Châu Ngọc H, sinh ngày 29/01/2019, không yêu cầu Anh N cấp dưỡng cho con chung. Về tài sản chung và nợ chung chị xác định chị và Anh N trong thời gian chung sống không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện Chị H giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có: Căn cước công dân của Nguyễn Thị Mỹ H (Bản sao có chứng thực); Giấy khai sinh của Châu Ngọc H (Bản sao có chứng thực); Giấy chứng nhận kết hôn số 126 (Bản sao có chứng thực); Đơn yêu cầu không qua trung tâm hòa giải đối thoại tại tòa án, Đơn đề nghị Tòa án hộ trợ gửi bản sao. Đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.. Đơn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

* Đối với bị đơn Anh Châu Hoàng N: Dù đã được Tòa án Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo có thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng Anh N không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập hợp lệ nhưng Anh N vắng mặt không có lý do. Anh N đã được Tòa án tống đạt Thông báo kết quả phiên họp và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 16/4/2024, Anh N vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành hoãn phiên tòa và tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn Chị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh N vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử công bố Đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai của Chị Nguyễn Thị Mỹ H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

- Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là ‘Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”.

- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy tình cảm vợ chồng Chị H, Anh N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của Chị H cho vợ chồng Chị H, Anh N ly hôn. Về con chung giao cho Chị H trực tiếp nuôi dưỡng và Anh N không phải cấp dưỡng cho con chung do Chị H không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra còn buộc Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Mỹ H kết hôn với Anh Châu Hoàng N và đã được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 126, ngày 17/9/2018 đồng thời Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn với Anh N. Do vậy, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là Ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp này được pháp luật điều chỉnh tại Điều 51, 56 và 58 của Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 25/01/2024, Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với Anh Châu Hoàng N có nơi cư trú tại ấp M, xã T, huyện T, tỉnh S, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Tề, tỉnh S thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[1.3] Việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ H vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, bị đơn Châu Hoàng N vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ H.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2018, Chị H và Anh N sau thời gian quen biết và tìm hiểu nhau đã tự nguyện tổ chức lễ cưới, sau đó có đăng ký kết hôn đúng theo trình tự thủ tục luật định và đã được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 126, ngày 17/9/2018. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa Chị H và Anh N là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của pháp luật. Trong đó có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình và chung sống với nhau. Thời gian đầu thì vợ chồng Chị H và Anh N có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn và đã không còn chung sống với nhau mặc dù không có thỏa thuận khác và cũng không vì yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Như vậy, Chị H và Anh N đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình; Vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần thiết áp dụng các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ H xác định vợ chồng chị có một con chung là Châu Ngọc H, sinh ngày 29/01/2019. Việc này cũng hoàn toàn phù hợp với giấy khai sinh của cháu Châu Ngọc H thể hiện là con chung của Chị H và Anh N. Hiện nay cháu H đang do Chị H trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay.

[3.3] Xét yêu cầu của Chị H được nuôi con chung là Châu Ngọc H thấy rằng: Từ khi vợ chồng Chị H, Anh N sống ly thân, cháu H do Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, mặc dù Anh N không cùng nuôi dưỡng nhưng cháu H vẫn được đảm bảo phát triển tốt về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Đồng thời, sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay thì Anh N cũng không đến để trình bày ý kiến về con chung nên coi như Anh N đã từ bỏ quyền của mình đối với yêu cầu về nuôi dưỡng con chung, mặc khác hiện nay Chị H có công việc ổn định và có thu nhập đảm bảo cuộc sống của con chung. Do đó, để ổn định cuộc sống cho cháu H, nên giao cháu H cho Chị H chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.4] Về cấp dưỡng cho con chung: Chị H tự nguyện không yêu cầu Anh N cấp dưỡng cho cháu H nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.5] Bên cạnh đó Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy Chị H chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Anh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Chị H, Anh N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

[7] Như đã phân tích nêu trên, nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phía án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Mỹ H.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với Anh Châu Hoàng N.

2/ Về con chung: Giao cháu Châu Ngọc H, sinh ngày 29/01/2019 cho Chị Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh Châu Hoàng N không phải cấp dưỡng cho con chung do Chị Nguyễn Thị Mỹ H không có yêu cầu.

Anh Châu Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002332, ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Chị Nguyễn Thị Mỹ H đã thực hiện xong. Anh Châu Hoàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh S (P. KT, NV&THA);
  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã T;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thạch Thị Sa The

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger