|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-9-2024 V/v ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Vũ Hòa Ân;
- Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình– Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 253/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam A, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn bà H và bị đơn ông H1 vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn bà H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H1 chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 23/4/2007 tại UBND xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn với nhau và không thể hòa giải. Từ năm 2016 đến nay, ông H1 bị bắt và đang chấp hành án tại Trại giam A có địa chỉ tại xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà H thấy rằng hiện nay không còn tình cảm với ông H1 nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ nguyên đơn bà H cung cấp: Đơn xin ly hôn; Bản sao căn cước công dân; bản chính giấy chứng nhận kết hôn; đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ gửi tài liệu chứng cứ; đơn yêu cầu không hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, bản tự khai; đơn yêu cầu không hòa giải ngày 21/8/2024; bản sao bản án hình sự số 14/2019/HS-ST ngày 19/3/2019 của TAND tỉnh Bình Dương.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2024 của TAND huyện Phú Giáo tại Trại giam A, bị đơn ông H1 trình bày:
Bà H là vợ sau của ông H1, chung sống với nhau từ năm 2007 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã M, huyện D. Trước yêu cầu ly hôn của bà H thì ông H1 đồng ý. Ông H1 và bà H không có con chung, cũng không nhận nuôi con nuôi. Về tài sản chung, nợ chung, ông H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ ông H1 cung cấp: Đơn xin vắng mặt ngày 16/8/2024.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các bên đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H và bị đơn ông H1 vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị xét xử vắng mặt đương sự theo quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn. Về nội dung vụ án, đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Bà H khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với ông H1. Ông H1 có nơi đăng ký thường trú tại ấp H, xã M, huyện D. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật là “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
[2] Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà H và bị đơn ông H1 vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện D vào năm 2007 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Bà H cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn với nhau và không thể hòa giải. Từ năm 2016 đến nay, ông H1 bị bắt và đang chấp hành án tại Trại giam A có địa chỉ tại xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà H thấy rằng hiện nay không còn tình cảm với ông H1 nên yêu cầu được ly hôn. Trước yêu cầu ly hôn của bà H thì ông H1 đồng ý. Việc các bên đương sự tự nguyện thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội là phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.2] Đương sự trình bày không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Các bên đương sự được quyền khởi kiện tại một vụ án khác nếu sau này có phát sinh tranh chấp.
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về quá trình tiến hành tố tụng, diễn biến tại phiên tòa cũng như nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn” của bà Trần Thị Thu H đối với ông Huỳnh Văn H1, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Huỳnh Văn H1.
- Về con chung: Đương sự trình bày không có con chung nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Trần Thị Thu H phải chịu toàn bộ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000193 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, bà Trần Thị Thu H đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Kim Phi |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thị Phương Trang |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thu H-Huỳnh Văn H1 ly hôn
