Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày 05 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thái và ông Đặng Thanh Liêm

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 52/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 2000, tại huyện T, tỉnh An Giang; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn S và bà Hồ Thị R, anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/02/2024 cho đến nay, (hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lê Văn T1, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ

+ Ông Ngô Hoàng T2, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 11/10/2022, lực lượng Công an xã V, huyện T tuần tra trên địa bàn, khi đến khu vực ấp V, xã V phát hiện Lê Văn T1 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-133.04 chở Nguyễn Thanh T có biểu hiện nghi vấn, lực lượng yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra hành chính, phát hiện bên trong ví da của T có bọc nylon trong suốt chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy), cùng lúc này T nhảy xuống kênh bỏ trốn, còn T1 được lực lượng đưa về trụ sở làm việc và thu giữ các đồ vật có liên quan. Tại đây, T1 khai nhận, chất tinh thể màu trắng thu giữ trong ví da của T, T1 không rõ nguồn gốc, không biết tác dụng T sử dụng vào mục đích gì nên Công an xã V chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền. Trên cơ sở kết luận giám định, ghi nhận chất tinh thể màu trắng thu giữ của T là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0.2923g nên ngày 14/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố vụ án, đồng thời thực hiện quyết định truy tìm T.

Ngày 09/02/2024, T đến Công an xã V đầu thú khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 11/10/2022, T gọi điện thoại cho T1 nhờ chở đến tiệm lấy xe gửi sửa chữa trước đó, nhưng không cho T1 biết đi mua ma túy. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-133.04 chở T đến tiệm không có biển hiệu tại khu vực gần Ủy ban nhân dân xã P, T vào gặp người thanh niên lạ mặt (không rõ họ tên địa chỉ) mua 300.000 đồng ma túy, T lấy bọc nylon chứa ma túy bỏ vào ví da màu nâu cất giấu, trên đường trở về thì bị Công an kiểm tra, T nhảy xuống kênh bỏ trốn.

Ngày 14/02/2024, T bị khởi tố điều tra.

Tang vật thu giữ gồm: Xe mô tô biển số 67C1-133.04, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Plus 8 màu vàng, 01 điện thoại di động Samsung, 01 ví da màu nâu. Ngày 20/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại xe mô tô biển số 67C1-133.04 và điện thoại Iphone Plus 8 cho Lê Văn T1.

Tại Kết luận giám định số 168 ngày 12/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0.2923g.

Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H Tại Cáo trạng số: 36/CT-VKSTS ngày 08/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị Nguyễn Thanh T từ 01 năm đến 02 năm tù.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định 0,2626g ma túy, loại Methamphetamine; tịch thu bán phát mãi để sung công quỹ Nhà nước một điện thoại di động S1 và tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu nâu không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Thanh T không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 21 giờ ngày 11/10/2022, tại khu vực ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ 0,2923g ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an xã V bắt quả tang. Hành vi trên của Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù (tội phạm nghiêm trọng).

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi được gia đình động viên bị cáo đã tự nguyện đầu thú nên được áp dụng tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Đối với người có liên quan đến vụ án gồm: Lê Văn T1 chưa sử dụng chung ma túy với bị cáo và không biết bị cáo cất giấu ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp quy định pháp luật. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ là đúng pháp luật

[7] Về vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; đối với chiếc ví da màu nâu bị cáo dùng làm phương tiện để cất giấu ma túy, tài sản này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung bị cáo dùng làm phương tiện để liên hệ mua ma túy nên cần tịch thu bán phát mãi sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Về các vấn đề khác: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/02/2024).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định 0,2626g ma túy, loại Methamphetamine, đây là chất cấm lưu hành, tàng trữ và 01 ví da màu nâu không còn giá trị sử dụng, tịch thu bán phát mãi sung vào công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu S2. (Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 08/4/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Viện KSND tỉnh An Giang;
  • - Viện KSND huyện Thoại Sơn;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà tạm giữ - CA huyện Thoại Sơn;
  • - Phòng hồ sơ;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Linh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger