Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Trầm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trung Thành

Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 22/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đổng Thanh P, sinh năm 2000 tại tỉnh Ninh Thuận;

Nơi thường trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Chăm; tôn giáo: Bà La M; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đổng B, sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim H, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; bị cáo có 05 anh, chị, em ruột lớn nhất sinh năm 1991, bị cáo là con út trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 22/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Ngày 19/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Phạm Thị Ngọc C, sinh năm 1998; (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Sơn Hiệp, xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước;

Chỗ ở: Tổ 30, khu phố Thắng Lợi, thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết từ trước nên khoảng 9 giờ 30 phút ngày 24/3/2019, Đổng Thanh P mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, biển kiểm soát (BKS) 93P1 – 186.87 của Phạm Thị Ngọc C tại khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước để chở bạn đi đón xe ô tô khách về tỉnh Bình Dương thì C đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô BKS 93P1 – 186.87 về nhà tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận chơi. Do không có tiền tiêu xài nên P đã bán xe mô tô BKS 93P1 – 186.87 cho Võ Tấn L được 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi không thấy P trả lại xe mô tô và nhiều lần không liên lạc được với P nên ngày 28/3/2019, C đã đến Công an thị trấn T trình báo vụ việc.

Quá trình điều tra, Đổng Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình như trên.

Theo Kết luận định giá tài sản số 46 ngày 10/6/2019, của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, màu đen trắng đỏ, BKS 93P1 – 186.87 trị giá 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng)

Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSĐP ngày 22/4/2024, Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Đổng Thanh P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS);

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố.

Đại diện Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; Sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đổng Thanh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm tài sản".

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 BLHS: Xử phạt bị cáo Đổng T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như hình phạt và các vấn đề khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo đã nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm quy định pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về xã hội làm người công dân có ích cho xã hội, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là đúng pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đổng Thanh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của VKSND huyện Đồng Phú truy tố. Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án cùng những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 24/3/2019 tại khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, Đổng Thanh P đã có hành vi lợi dụng lòng tin của chị Phạm Thị Ngọc C, mượn xe mô tô BKS 93P1 – 186.87 của C để sử dụng, sau đó đem đi bán cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Đổng Thanh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là ít nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Đổng Thanh P đã bồi thường cho bà Phạm Thị Ngọc C số tiền 9.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đổng Thanh P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đổng Thanh P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đổng Thanh P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án nược niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước (01);
  • - VKSND huyện Đồng Phú (01);
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú (01);
  • - PV06 - CA tỉnh Bình Phước (01);
  • - Công an huyện (gồm: Nhà tạm giữ, Đội hồ sơ nghiệp vụ, Đội điều tra CA huyện) (03);
  • - TT lý lịch tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01);
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng (03);
  • - Lưu: HSVA, VT (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hương Trầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger