|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-06-2024 V/v Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên
Các hội thẩm nhân dân:
- 1/- Ông Huỳnh Tài Em
- 2/- Ông Liêu Tài Ngoánh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 06 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 04 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Châu Thanh T, sinh năm 1973
- Bị đơn: Chị Trần Tú Q, sinh năm 1981
Địa chỉ: Ấp G, xã S, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Ấp G, xã S, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh T có đơn xin vắng mặt, chị Q vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là anh Châu Thanh T trình bày: Anh Châu Thanh T và chị Trần Tú Q xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Quá trình chung sống, anh T và chị Q có 02 (hai) con chung tên: Châu Ngọc Tường V, sinh ngày 02/01/2009; Châu Ngọc Quốc T1, sinh ngày 27/05/2011. Hiện cháu V và cháu T1 đang sống cùng với anh T.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh T và chị Q là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh T và chị Q đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, nhưng không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau và hiện tại, anh T không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với chị Q.
Nay, anh Châu Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Trần Tú Q; Về con chung: Yêu cầu nuôi con chung là cháu Châu Ngọc Tường V, sinh ngày 02/01/2009 và cháu Châu Ngọc Quốc T1, sinh ngày 27/05/2011, không yêu cầu chị Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh T không còn có yêu cầu gì khác.
Đối với chị Trần Tú Q không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, chị Q cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của anh Châu Thanh T theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho chị Q, nhưng chị Q không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- * Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung đề xuất: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Châu Thanh T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Châu Ngọc Tường V, sinh ngày 02/01/2009 và cháu Châu Ngọc Quốc T1, sinh ngày 27/05/2011 cho anh Châu Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trần Tú Q không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Châu Thanh T không yêu cầu. Chị Trần Tú Q được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
- Án phí: Anh Châu Thanh T phải nộp án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là anh Châu Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Trần Tú Q nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Trần Tú Q có nơi cư trú tại Ấp G, xã S, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, anh Châu Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, chị Trần Tú Q vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho chị Q để tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa anh T và chị Q theo quy định, nhưng chị Q vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T và chị Q.
[2] Về hôn nhân: Anh T và chị Q xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và đã được Uỷ ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/03/2009. Vì thế, hôn nhân giữa anh T và chị Q là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Anh T xác định: Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh T và chị Q là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2023 đến nay. Từ khi sống ly thân với nhau, anh T và chị Q đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được, nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị Q.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống anh T và chị Q không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi nhau, dẫn đến hiện tại anh T và chị Q đã phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Đối với chị Q, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng nhiều lần tiến hành triệu tập hợp lệ chị Q đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử, nhưng chị Q vẫn vắng mặt không có lý do. Trong suốt quá trình xét xử vụ án, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với chị Q, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy hôn nhân giữa anh T và chị Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa anh Châu Thanh T đối với chị Trần Tú Q.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh T và chị Q có 02 (hai) con chung tên: Châu Ngọc Tường V, sinh ngày 02/01/2009; Châu Ngọc Quốc T1, sinh ngày 27/05/2011. Hiện cháu V và cháu T1 đang sống cùng với anh T, anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu V và cháu T1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Q vắng mặt, không có ý kiến.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“ 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Xét thấy, tại thời điểm giải quyết, cháu V và cháu T đã đủ 07 tuổi trở lên, nên cần phải xem xét nguyện vọng của cháu V và cháu T1 để giao các cháu cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai của cháu V và cháu T1 (BL 24-25), cháu V và cháu T1 đều có nguyện vọng được sống cùng với anh T. Anh T cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu V và cháu T1. Hơn nữa, cháu V và cháu T1 hiện đang sống ổn định cùng với anh T. Trong khi đó, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Q vắng mặt, không có ý kiến, đồng thời, chị Q cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh anh T không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V và cháu T1. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu V và cháu T1, đồng thời, đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của các cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu V và cháu T1, nên cần tiếp tục giao cháu V và cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu chị Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định anh T và chị Q không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Châu Thanh T đối với chị Trần Tú Q, xử cho ly hôn giữa anh Châu Thanh T và chị Trần Tú Q.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Châu Ngọc Tường V, sinh ngày 02/01/2009 và cháu Châu Ngọc Quốc T1, sinh ngày 27/05/2011 cho anh Châu Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Trần Tú Q không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Châu Thanh T không yêu cầu.
Chị Trần Tú Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Anh Châu Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Châu Thanh T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005194 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
Phan Thị Mỹ Xuyên |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án hôn nhân Châu Thanh Tường - Trần Tú Quyên
