Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ T

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày 02 tháng 7 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Hữu Dẫm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Văng Thảo Hiền; Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Khang - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã T với điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Thông báo số 07/TB-TA ngày 17/6/2024 đối với bị cáo:

C, sinh ngày 13 tháng 12 năm 1987, tại An Giang; nơi cư trú: khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo Hòa Hảo; cha là ông G (đã chết), mẹ là bà N, sinh năm 1930; bị cáo là con một trong gia đình; vợ là chị B, sinh năm 1987; có 01 người con, sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: Ngày 12/10/2023, bị Ủy ban nhân dân phường S, thị xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, số tiền 2.500.000 đồng, chưa chấp hành.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/3/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: H, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp P2, xã Ê, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà N, sinh năm 1930; nơi cư trú: khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt)

Người làm chứng: V; Ơ; I; U (tất cả vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17/01/2024, C chạy xe lôi đạp chở hàng hóa thuê trên đường Tỉnh lộ 953 hướng xã B đi xã Ê; khi về đến khu vực tổ 06, ấp P2, xã Ê, thị xã T, C dừng xe nghỉ ngơi, thấy xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 67K1 – 5925 (có gắn bóng đèn Led trên mặt nạ xe), của H đang dựng trước nhà, không người trông giữ, C nảy sinh ý định lấy trộm bóng đèn Led đem về sử dụng. Để thực hiện, C dùng tay tháo vặn ốc, giật đứt dây điện liên kết bóng đèn Led ra khỏi vị trí xe thì bị V phát hiện, truy hô cho U, I (người cùng xóm) chặn giữ C để bàn giao Công an; lợi dụng sơ hở, C bỏ chạy thoát. Mời làm việc, C thừa nhận toàn bộ hành vi.

Tang vật thu giữ: 01 bóng đèn Led chiếu sáng bằng kim loại đen, ký hiệu BMU202211, đã trả cho Đào Mỹ H.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 708/KL-HĐĐG.TTHS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 bóng đèn Led chiếu sáng bằng kim loại đen, ký hiệu BMU202211, đã qua sử dụng, giá trị 180.000 đồng.

Kết quả tra cứu, ngày 12/10/2023 C đã bị xử phạt vi phạm hành chính hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 2.500.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T đã khởi tố, tạm giam C để điều tra, xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo C khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 21/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T đã truy tố C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra, truy tố. Bị hại, người làm chứng vắng mặt, nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo C, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo C. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Vật chứng đã được xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.

Trong phần tranh luận, bị cáo C không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    • - Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo C bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã T khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại khu vực ấp ấp P2, xã Ê, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang.
    • - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
    • - Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  2. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các vật chứng đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

    Khoảng 15 giờ ngày 17/01/2024 tại khu vực ấp P2, xã Ê, thị xã T thấy xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 67K1 – 5925 (có gắn bóng đèn Led trên mặt nạ xe), của H đang dựng trước nhà, không người trông giữ, C nảy sinh ý định lấy trộm bóng đèn Led đem về sử dụng. C dùng tay tháo vặn ốc, giật đứt dây điện liên kết bóng đèn Led ra khỏi vị trí xe thì bị V phát hiện, truy hô chặn giữ C để bàn giao Công an; lợi dụng sơ hở, C bỏ chạy thoát. Mời làm việc, C thừa nhận toàn bộ hành vi. Tổng trị giá sản giá trị 180.000 đồng.

    Ngày 12/10/2023 C đã bị xử phạt vi phạm hành chính hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 2.500.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt.

    Hành vi nêu trên của bị cáo C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
  4. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    Bị cáo C là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe nhưng không tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo C đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo thuộc thành phần lao động khó khăn là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Xét thấy: Bị cáo C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa xoá tiền sự, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của bị hại H, thể hiện xem thường pháp luật. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian, mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

  5. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 50.000.000đ. Xét thấy, bị cáo C không có tài sản, nghề nghiệp và không thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  7. Về vật chứng: Đã được xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.
  8. Về các vấn đề khác: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo C 07(bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/3/2024 (ngày mười tám, tháng ba, năm hai không hai mươi bốn).
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND TX. T (2);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS TX. T (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: C trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger