|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HN- ST Ngày 02/5/2024 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hết.
- Bà Trần Thị Sẩm.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Sương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2024/TLST-HN ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “xin ly hôn” theo thông báo mở lại phiên toà số: 154/2024/QĐST-HN ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Trần Thị Thanh T, sinh 1988 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Trú tại: Ấp Phú Lộc Th, xã An Đ, huyện Mỏ cày N, tỉnh Bến Tre
- * Bị đơn: Nguyễn Thanh K, sinh 1984 (vắng mặt không lý do)
- Trú tại: Ấp Phú Lộc Th, xã An Đ, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị T trình bày:
Vào năm 2009 tôi và anh K đã tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam vào ngày 18/11/2016. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp. Nay tôi xin ly hôn với anh K.
Quá trình sống chung vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bùi Tường Vy, sinh ngày 26/6/2010 và Nguyễn Chí Thiện, sinh ngày 11/11/2013, con hiện đang sống cùng tôi. Sau khi ly hôn tôi xin nuôi dưỡng cả hai con, yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi bé mỗi tháng 800.000 đồng đến khi các con tròn 18 tuổi.
Tài sản chung; Nợ chung: Không có.
Bị đơn Nguyễn Thanh K vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án và cũng không có bất cứ lời trình bày nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án nhưng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Áp dụng điều 56, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Đề nghị giao cả hai con cho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi bé mỗi tháng 800.000 đồng đến khi các con tròn 18 tuổi.
Tài sản chung; Nợ chung: Không có, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Về quyền khởi kiện: Chị T cho rằng quá trình sống chung giữa vợ chồng không còn hạnh phúc nên muốn ly hôn, do đó chị khởi kiện. Căn cứ điều 51 luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị Thúy có quyền khởi kiện.
- Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của chị Thúy là tranh chấp về việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.
- Anh K đã được triệu tập xét xử hai lần hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh K.
* Về nội dung giải quyết vụ án:
- Chị T, anh K kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết và tự nguyện tiến đến hôn nhân, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị sống có hạnh phúc, lẽ ra anh, chị phải biết gìn giữ, nhưng từ những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày mà anh, chị không tìm cách để khắc phục, sống ly thân bỏ mặt nhau. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết chị T vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh K đã được triệu tập rất nhiều lần để Tòa án tiến hành tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy anh K không có thiện chí muốn trở về chung sống với chị T. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị là có thật, nếu để anh chị tiếp tục chung sống thì mục đích hôn nhân sẽ không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thúy là phù hợp.
- Về con chung: vợ chồng anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Bùi Tường Vy, sinh ngày 26/6/2010 và Nguyễn Chí Thiện, sinh ngày 11/11/2013, từ lúc vợ chồng ly thân thì các con sống cùng chị Thúy, các con đã thích nghi với việc chăm sóc giáo dục của Thúy, nguyện vọng của các con sau khi được hỏi ý kiến cũng mong muốn sống cùng chị Thúy, nên tiếp tục giao con cho chị Thúy trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đối với mức cấp dưỡng nuôi con chị Thúy yêu cầu là phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
- Tài sản chung; Nợ chung: Không có nên không xem xét.
- Chị Thúy phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, anh K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Quan điểm của kiểm sát viên phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng khoản 5 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thanh Thúy. Chị Trần Thị Thanh Thúy được ly hôn với anh Nguyễn Thanh K.
Về con chung: Chị T được trực tiếp nuôi con Nguyễn Bùi Tường Vy, sinh ngày 26/6/2010 và Nguyễn Chí Thiện, sinh ngày 11/11/2013. Buộc anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi bé mỗi tháng 800.000 đồng đến khi các con tròn 18 tuổi. Thời hạn bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/5/2024)
Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có căn cứ một hoặc cả hai bên chị T, anh K được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung; Nợ chung: Không có nên không xem xét.
Án phí: Chị Thúy chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003840 ngày 31/01/2024. Anh K chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký |
Bản án số 48/2024/HN- ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HN- ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thanh T - Nguyễn Thanh K
