|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01-7-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Kiều Thu
2. Ông Đỗ Văn Hòa
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 253/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 296/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị T, sinh năm 1982
HKTT và chỗ ở: khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: ông Trương Công N, sinh năm 1982
HKTT: khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Chỗ ở: số G Hồ Q, khu phố C, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2024, bản tự khai, và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Trương Công N tự nguyện tìm hiểu, sống chung vào năm 2003 và đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm đến gia đình. Hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trương Công N.
- Về con chung: Bà và ông N có ba con chung tên Trương Thị Thu H - sinh ngày 02/12/2004, Trương Thị Thu M – sinh ngày 21/9/2008 và Trương Thị Yến N1 - sinh ngày 13/12/2017. Trương Thị Thu H đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu nuôi hai con chung Trương Thị Thu M, Trương Thị Yến N1 và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trương Công N nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nên không thể tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T, xét xử cho bà Lê Thị T được ly hôn ông Trương Công N và giao hai con chung Trương Thị Thu M, Trương Thị Yến N1 cho bà T nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị T yêu cầu được ly hôn ông Trương Công N và yêu cầu giải quyết về con chung, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và chỗ ở tại phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy:
Bà Lê Thị T và ông Trương Công N chung sống vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84; ngày, tháng, năm đăng ký: 26/6/2023. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo bà T trình bày, vợ chồng ông, bà trong thời gian chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Dù đã cố gắng nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện nay bà T và ông N đã không còn chung sống với nhau. Tòa án đã triệu tập ông N đến Tòa nhằm hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông N không đến Tòa cũng như không có bất kỳ văn bản nào thể hiện quan điểm của mình, cho thấy ông N không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Lê Thị T yêu cầu ly hôn ông Trương Công N là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Bà Lê Thị T khai bà và ông Trương Công N có ba con chung tên Trương Thị Thu H - sinh ngày 02/12/2004, Trương Thị Thu M – sinh ngày 21/9/2008 và Trương Thị Yến N1, sinh ngày 13/12/2017. Trương Thị Thu H đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung Trương Thị Thu M, Trương Thị Yến N1 và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Trương Công N không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ông có nguyện vọng nuôi con hay không.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2024, cháu Trương Thị Thu M có thể hiện nguyện vọng được ở với bà T, và cháu Trương Thị Yến N1 vẫn đang còn nhỏ tuổi, cần có sự chăm sóc của người mẹ, nên giao các cháu cho bà T nuôi dưỡng là hợp lý. Do đó, chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của bà Lê Thị T, bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Trương Thị Thu M, Trương Thị Yến N1.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Lê Thị T chưa yêu cầu ông Trương Công N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị T và ông Trương Công N chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn ông Trương Công N.
- Về con chung: Bà Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Trương Thị Thu M, sinh ngày 21/9/2008 và Trương Thị Yến N1, sinh ngày 13/12/2017. Ông Trương Công N có nghĩa vụ giao hai con chung Trương Thị Thu M, Trương Thị Yến N1 cho bà Lê Thị T nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị T chưa yêu cầu ông Trương Công N cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà T, ông N có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung.
Bà T không được ngăn cản ông N trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con chung.
2. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 17 tháng 01 năm 2024, bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001196 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, nay chuyển 300.000 đồng sang án phí và sung công quỹ nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/7/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
