Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

—————————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 48/2025/KDTM-PT

Ngày: 10/03/2025

v/v tranh chấp Hợp đồng thuê kho

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo.
  • Các thẩm phán:
    1. Bà Lê Thúy Linh
    2. Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
  • Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Hoàng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Hoàng Thị Hồng Chiêm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 311/2024/TLPT–KDTM ngày 23/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê kho”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26,27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H bị kháng nghị, kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 119/2025/QĐ-PT ngày 25/02/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần V (Công ty M1).

Địa chỉ trụ sở: K, đường P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tống Ngọc T, sinh năm 1972, trú tại: số B, đường P, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội là người đại diện theo pháp luật (Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty CP V và Thiết bị toàn bộ).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đinh Văn L, chức vụ: Phó tổng giám đốc. (Văn bản ủy quyền: Giấy ủy quyền tham gia tố tụng số 08/MTX-UQ ngày 03/01/2025). (Có mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần T1.

Địa chỉ trụ sở: Số nhà A phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Vân H, sinh năm 1969, trú tại: số A phố Đ, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội là người đại diện theo pháp luật (Chức vụ: Giám đốc Công ty CP T1). (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

  1. Luật sư Nguyễn Thị Ngọc A, thẻ luật sư số 10725/LS ngày 12/4/2016 thuộc Đoàn luật sư thành phố H, công tác tại Công ty L1. (Có mặt)
  2. Luật sư Nguyễn Ngọc A, thẻ luật sư số 19411/LS ngày 06/4/2023 thuộc Đoàn luật sư thành phố H, công tác tại Công ty L1. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Ngày 31/12/2014, Công ty Cổ phần V (sau đây gọi tắt là Công ty M1) cùng Công ty Cổ phần T1 (Sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2015. Nội dung của hợp đồng: Công ty M1 cho Công ty T1 thuê 466 m² nhà kho tại phường P, quận B, Hà Nội. Mục đích thuê: để Công ty T1 chứa hàng hóa, vật tư, thiết bị. Đơn giá thuê là: 35.000đ/m²/tháng (chưa bao gồm thuế GTGT 10%), thanh toán 03 tháng/lần.

  • Ngày 15/01/2016, Công ty M1 xuất hóa đơn số 0000377 ký hiệu MX/15P, tiền thuê kho 12 tháng của năm 2015 với tổng tiền Công ty T1 phải thanh toán là: 215.292.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm mười lăm triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn đồng chẵn);
  • Ngày 01/02/2016, Công ty T1 chuyển khoản qua ngân hàng thanh toán 53.832.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu, tám trăm ba mươi hai nghìn đồng chẵn);
  • Ngày 09/3/2016, Công ty M1 xuất hóa đơn số 0000396 ký hiệu MX/15P, tiền thuê kho Quý 1 năm 2016 với tổng tiền Công ty T1 phải thanh toán là: 53.832.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu, tám trăm ba mươi hai nghìn đồng chẵn);

Tính đến hết quý 1 năm 2016, Công ty T1 còn phải thanh toán cho Công ty M1 số tiền là 215.292.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm mười lăm triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn đồng chẵn). Công ty M1 đã hoàn tất việc cho thuê kho và xuất đầy đủ hóa đơn GTGT cho Công ty T1 theo đúng thỏa thuận, nhưng kể từ ngày 01/02/2016 đến nay Công ty T1 chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo cam kết.

Từ thời điểm quý 1 năm 2016 đến nay, Công ty M1 đã nhiều lần gửi công văn đề nghị thanh toán, tổ chức nhiều buổi làm việc với đại diện của Công ty T1 về phương án và kế hoạch trả nợ của công ty T1. Tuy nhiên, Công ty T1 vẫn chưa thanh toán cho Công ty M1.

Đến ngày 31/3/2023, Công ty M1 tiếp tục làm việc với Công ty T1 yêu cầu trả nợ dứt điểm, Công ty T1 có cam kết trả một phần trước 10/4/2023. Nhưng đến hết ngày 31/5/2023, phía Công ty T1 vẫn không thực hiện việc trả nợ theo yêu cầu của M và cam kết của Công ty T1. Toàn bộ công nợ của Công ty T1 đối với Công ty M1 đều đã quá hạn trong thời gian rất dài, ảnh hưởng tới lợi ích và hoạt động kinh doanh của Công ty M1.

Tính đến thời điểm 31/5/2023, Công ty M1 đã gửi đề nghị thanh toán nợ gốc và nợ lãi tới Homicook, trong đó: Số tiền nợ gốc: 215.292.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm mười lăm triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn đồng chẵn).

  • Số tiền lãi phát sinh do quá hạn thanh toán là: 226.675.933 đồng (Bằng chữ: Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn, chín trăm ba mươi ba đồng).

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, Công ty M1 bổ sung đơn khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả số tiền nợ gốc còn lại 192.292.000 đồng. Số tiền lãi phát sinh do quá hạn thanh toán 165.570.115 đồng. Tổng số tiền Công ty M1 nguyên đơn đề nghị bị đơn thanh toán tạm tính đến ngày 29/5/2024 là 357.862.115 đồng.

Tại bản tự khai quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:

Công ty T1 không chấp nhận khoản nợ năm 2015 là 441.967.933 đồng vì chúng tôi chưa thỏa thuận gì với nhau và Công ty T1 đã thanh toán trả tiền thuê kho. Số tiền Công ty T1 đã thanh toán trả 15 triệu vào ngày 27/12/2016. Công ty M1 đã bỏ quên món nợ này. Công ty T1 đồng ý trả nợ năm 2016 sau khi thỏa thuận với Công ty M1 để chốt công nợ từ năm 2016 đến năm 2019 gây khó khăn cho Công ty T1 trong việc xác nhận kiểm tra công nợ tại công ty. Việc chậm trễ thiếu trách nhiệm quản lý kinh tế tài chính của nguyên đơn đã ảnh hưởng đến Công ty T1.

Công ty T1 có đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời kiệu khởi kiện hợp đồng dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án. Tính từ năm 2015 đã gần 10 năm trôi qua Công ty M1 mới nộp đơn khởi kiện khi thời hiệu khởi kiện hợp đồng theo Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 tương ứng với Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 đã hết. Thực tế trong suốt thời gian từ năm 2015 đến 2022, Công ty M1 và bị đơn chưa từng có tranh chấp, trao đổi gì liên quan đến Công ty M1 yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26,27/9/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Vật tư và Thiết bị toàn bộ đối với Công ty Cổ phần Thương mại và Sản xuất Homicook

Buộc công ty Công ty Cổ phần Thương mại và Sản xuất Homicook thanh toán trả Công ty Cổ phần V và Thiết bị toàn bộ số tiền thuê kho còn lại chưa thanh toán 30.832.000 đồng. Lãi phạt chậm số tiền 37.663.542 đồng. Tổng cộng 68.495.542 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về thi hành án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 09/10/2024, nguyên đơn Công ty CP V và Thiết bị toàn bộ kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, đánh giá lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26,27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Ngày 09/10/2024, bị đơn Công ty Cổ phần T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26,27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về phần tính lãi chậm trả. Bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tính lại lãi chậm trả của số tiền 30.832.000 đồng mà bản án đã tuyên là 37.663.542 đồng nhưng theo tính toán của Bị đơn số tiền lãi là 5.824.853 đồng.

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-KDTM ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đối với bản án KDTM sơ thẩm số 167/2024/KDTM- ST ngày 26, 27/9/2024 của Tòa án nhân quận B, thành phố Hà Nội kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, theo hướng sửa bản án sơ thẩm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc Bị đơn phải thanh toán tiền thuê kho cho Nguyên đơn là: 192.292.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê kho.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo

Bị đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về chấp hành pháp luật của Thẩm phán và HĐXX tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đương sự đã thực hiện tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty CP V và Thiết bị toàn bộ và của bị đơn Công ty Cổ phần T1 đảm bảo về nội dung, nộp trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí nên xác định kháng cáo hợp lệ.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn, một phần kháng cáo của Bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26, 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, cụ thể:

  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc đòi thanh toán tiền thuê kho 192.292.000 đồng.
  • Chấp nhận yêu cầu đòi tiền lãi phát sinh từ tiền thuê kho chưa trả của 02 Hợp đồng kể từ ngày Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê kho.

Về án phí: Sửa lại phần án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật. Do kháng cáo của Nguyên đơn, Bị đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm kinh doanh thương mại.

Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Ngày 13/6/2023, Công ty CP V và Thiết bị Toàn bộ có đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, tiền lãi phạt do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền theo Hợp đồng thuê kho đã ký với Công ty CP T1 có địa chỉ trụ sở tại số nhà A phố Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Quan hệ pháp luật của vụ án xác định là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Ngày 26, 27/9/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm và tuyên án. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 09/10/2024, nguyên đơn Công ty CP V và Thiết bị toàn bộ và bị đơn Công ty Cổ phần T1 có Đơn kháng cáo. Ngày 10/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-KDTM kháng nghị một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26, 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Quyết định kháng nghị và Đơn kháng cáo của đương sự làm trong thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Do đó, vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét phạm vi xét xử phúc thẩm:

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-KDTM ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình kháng nghị một phần bản án sơ thẩm đối với phần chưa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty CP V và Thiết bị toàn bộ đề nghị Tòa án xem xét bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty CP T1 đề nghị xem xét lại khoản tiền lãi phạt chậm trả. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự đối chiếu với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát, Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26, 27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

[3] Xét thời hiệu khởi kiện:

Ngày 31/12/2014, Công ty CP V (Công ty M1) và Công ty CP T1 (Công ty T1) ký Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2015 thời hạn 12 tháng từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2015. Ngày 31/12/2015, hai Công ty ký Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2016 thời hạn 03 tháng từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/3/2016. Tính đến hết quý 1 năm 2016, Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Công ty M1 tiền thuê kho cả 02 hợp đồng.

Ngày 28/12/2022, Công ty M1 và Công ty T1 lập Biên bản làm việc về việc thu hồi công nợ với nội dung: Công ty M1 đề nghị thanh toán số tiền 1 quý 53.823.000 đồng và số tiền 1 năm 215.292.000 đồng; Công ty T1 chỉ xác nhận số tiền nợ quý 1 năm 2016. Biên bản làm việc thực hiện thu hồi công nợ ngày 31/3/2023, Biên bản đối chiếu công nợ ngày 13/6/2023, Công ty T1 đều thừa nhận còn nợ Công ty M1 số tiền 53.832.000 đồng của Hợp đồng 05/2016, không thừa nhận chưa thanh toán số tiền còn thiếu của Hợp đồng 05/2015.

Theo Điều 157 BLDS 2015 quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự:

“1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:

a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.

2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này.”

Do đó thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng sẽ bắt đầu lại kể từ ngày bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án sẽ bắt đầu lại từ ngày tiếp theo ngày thừa nhận là ngày 29/12/2022. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện hợp đồng dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ pháp luật.

[4] Xét yêu cầu thanh toán tiền thuê kho:

[4.1] Xét Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2015 ngày 31/12/2014 và số 05HĐTK/2016 ngày 31/12/2015 giữa Công ty Cổ phần V (sau đây gọi tắt là Công ty M1) cùng Công ty Cổ phần T1:

Các bên đương sự đã xác nhận: Công ty Cổ phần V và Thiết bị toàn bộ (M1) đã ký 02 hợp đồng thuê kho gồm: Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2015 ngày 31/12/2014 về việc Công ty T1 thuê 466m² nhà kho thuộc Tổng kho Hà Nội của Công ty M1 tại phường P, quận B, Hà Nội để hàng hàng hóa vật tư, thiết bị thời hạn từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2015; Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2016 ngày 31/12/2015 về nội dung các bên thỏa thuận như Hợp đồng số 05HĐTK/2015 với thời hạn từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/3/2016. Nhận thấy: 02 Hợp đồng thuê kho nêu trên đều do người đại diện hợp pháp của các bên ký kết, các công ty đều có đầy đủ năng lực để tham gia giao dịch; mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm của luật do đó hợp đồng phát sinh hiệu lực từ thời điểm các bên ký kết.

[4.2] Xét yêu cầu thanh toán tiền thuê kho:

Quá trình thực hiện 02 Hợp đồng, Công ty T1 đã thuê kho của Công ty M1 trong thời gian 01 năm 2015 và quý I năm 2016. Công ty T1 đã thanh toán tiền thuê kho cho Công ty M1 04 lần, với tổng số tiền là 76.832.000 đồng, cụ thể:

  • Ngày 01/02/2016, chuyển khoản qua ngân hàng số tiền 53.832.000 đồng.
  • Ngày 27/12/2016, chuyển khoản qua ngân hàng số tiền 15.000.000 đồng.
  • Ngày 23/6/2023, bà H chuyển khoản thanh toán 5.000.000 đồng.
  • Ngày 24/10/2023, bà H chuyển khoản thanh toán 3.000.000 đồng.

Công ty M1 đã xuất 02 hoá đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền là 269.124.000 đồng cho Công ty T1, cụ thể: Hóa đơn số 0000377 ký hiệu MX/15P ngày 15/01/2016, tiền thuê kho 12 tháng năm 2015 với tổng số tiền: 215.292.000 đồng. Hóa đơn số 0000396 ký hiệu MX/15P ngày 09/3/2016, tiền thuê kho quý I năm 2016 với tổng số tiền: 53.832.000 đồng.

Công ty T1 xác định: Số tiền 53.832.000 đồng là tiền thanh toán thuê kho quý IV/2015; các khoản tiền còn lại thanh toán thuê kho quý I/2016 (23.000.000 đồng). Bị đơn xác định đã thanh toán xong tiền thuê kho năm 2015 và chỉ còn nợ tiền thuê kho quý I/2016 với số tiền 30.832.000 đồng.

Công ty M1 xác định bị đơn chưa thanh toán thuê kho quý I, II, III/2015 là 161.460.000 đồng, tiền thuê kho quý I/2016 là 30.832.000 đồng. Tổng số tiền thuê kho của cả hai hợp đồng Bị đơn chưa thanh toán là 192.292.000 đồng.

Nhận thấy: Điều 2, Điều 3 của Hợp đồng số 05HĐTK/2015 quy định hình thức thanh toán bằng tiền Việt chuyển khoản. Việc thanh toán theo từng quý vào trước ngày 05 của tháng đầu tiên trong quý đó. Trách nhiệm của bên A: Giao cho bên B hóa đơn GTGT khi bên A chuyển tiền theo Điều 2 của Hợp đồng.

Công ty T1 cho rằng đã thanh toán cho Công ty M1 số tiền thuê kho 03 quý đầu năm 2015 bằng hình thức tiền mặt và quý IV năm 2015 thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Tuy nhiên, Công ty bị ngập nước nên toàn bộ chứng từ không còn lưu giữ. Điều này là không đúng với thỏa thuận của các bên tại Điều 2 Hợp đồng năm 2014 quy định hình thức thanh toán: bằng tiền Việt chuyển khoản. Ngoài ra, Công ty T1 không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh việc đã thanh toán tiền thuê năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: “lời khai của hai bên đều không có chứng cứ chứng minh việc thanh toán tiền thuê kho” nhưng lại chấp nhận trình bày của Công ty T1 về việc đã thanh toán hết số tiền thuê kho của năm 2015 là không có căn cứ. Mặt khác, Công ty M1 đã xuất 02 hóa đơn đối với số tiền thuê kho của năm 2015, 2016, sử dụng để quyết toán quyết toán tài chính năm của Công ty là thực hiện đúng trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hóa đơn giá trị gia tăng làm chứng cứ để xác định bị đơn đã thanh toán tiền thuê kho quý I, II, III năm 2015 là không có căn cứ pháp luật. Như vậy, có căn cứ để xác định Bị đơn chưa thanh toán đầy đủ tiền thuê kho năm 2015 cho Nguyên đơn như yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là 161.460.000 đồng.

Đối với Hợp đồng số 05HĐTK/2016, Bị đơn và Nguyên đơn đều xác nhận hợp đồng này đã thanh toán số tiền 23.000.000 đồng, còn nợ tiền thuê kho 30.823.000 đồng. Xét thấy, nội dung trên đã được các bên thừa nhận nên không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Công ty M1 khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền thuê kho của hai Hợp đồng với tổng số tiền 192.292.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[4.3] Về yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán:

Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo nội dung hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó...”. Như vậy, pháp luật cho phép bên bị vi phạm được quyền yêu cầu thanh toán tiền lãi. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi nợ lãi trên một phần số tiền chậm trả và xác định thời điểm bắt đầu tính lãi chậm thanh toán là thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, kể từ ngày 28/12/2022 là không đúng. Bởi lẽ, thời hiệu khởi kiện không phải là căn cứ bắt đầu tính lãi chậm thanh toán đối với nghĩa vụ chưa thực hiện mà lãi chậm thanh toán được tính kể từ khi bên có nghĩa vụ vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ. Theo đó, tiền thuê kho năm 2015, bị đơn phải thanh toán tiền lãi chậm trả từ ngày 20/1/2016. Tiền thuê kho quý I/2016, Bị đơn phải thanh toán lãi chậm trả kể từ ngày 14/3/2016. Nguyên đơn đề nghị lãi suất 9,88%/năm trên cơ sở lấy lãi sất cho vay bình quân của 03 Ngân hàng thương mại (A1, V1, V2) có căn cứ theo Điều 306 Luật thương mại năm 2005.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát quận Đ và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty CP V và thiết bị toàn bộ có căn cứ pháp luật để chấp nhận. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty T1 không có căn cứ để chấp nhận. Do đó, buộc Bị đơn phải thanh toán trả tiền nợ thuê kho chưa thanh toán của hai Hợp đồng thuê kho giữa các bên số tiền là: 192.292.000 đồng và tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền chậm trả với lãi suất 9,88%/01 năm được tính kể từ khi bên bị đơn vi phạm nghĩa vụ chậm thanh toán.

[6] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật thương mại; Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-KDTM ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình. Chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn Công ty CP V và Thiết bị Toàn bộ. Chấp nhận một phần kháng cáo của Bị đơn Công ty Cổ phần T1. Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26,27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Cụ thể:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Vật tư và Thiết bị toàn bộ đối với Công ty Cổ phần T1 về việc thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2015 ngày 31/12/2014 và Hợp đồng thuê kho số 05HĐTK/2016 ngày 31/12/2015 và yêu cầu Công ty Cổ phần T1 thanh toán tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán từ ngày vi phạm đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2024).
  2. Buộc Công ty Cổ phần T1 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần V và Thiết bị toàn bộ đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2024) tổng số tiền: 364.160.231 đồng (Ba trăm sáu mươi bốn triệu, một trăm sáu mươi nghìn, hai trăm ba mươi mốt đồng), trong đó:
    • - Số tiền nợ gốc: 192.292.000 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn đồng).
    • - Số tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2024) là: 171.868.231 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu, tám trăm sáu mươi tám nghìn, hai trăm ba mươi mốt đồng).

    Kể từ ngày 28/9/2024, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất 10%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 167/2024/KDTM-ST ngày 26,27/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về án phí đối với các đương sự.

    Công ty Cổ phần V và Thiết bị toàn bộ không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần V và Thiết bị toàn bộ số tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu, bốn trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005110 ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, Hà Nội và số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0030738 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bà Đình, Hà Nội.

    Công ty Cổ phần T1 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm và phải nộp tiền án phí kinh doanh thương mại so thẩm 18.208.000 đồng được trừ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0030753 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bà Đình, Hà Nội. Công ty Cổ phần T1 còn phải nộp số tiền là 16.208.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm linh tám nghìn đồng)

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  1. TAND quận Ba Đình;
  2. VKSND TP. Hà Nội;
  3. Các đương sự;
  4. Chi cục THA quận Ba Đình;
  5. Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/KDTM-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng thuê kho

  • Số bản án: 48/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thuê kho
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng thuê kho
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger