|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 48/2025/HSST Ngày: 29/5/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và ông Phan Tùng Linh;
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/HSST-QĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
1/ Trần Văn L (Tên gọi khác: C), sinh ngày 21/10/1996; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Trần Văn T, sinh năm 1973, H và tên mẹ: Huỳnh Thị S, sinh năm 1970. Có 01 anh.
Tiền án: Ngày 18/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 04/6/2023, chấp hành xong bản án.
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 09/5/2014, bị Công an xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 750.000 đồng. Đã chấp hành nộp phạt.
Ngày 09/4/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136, Điều 69, Điều 74 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 69, Điều 74 của Bộ luật hình sự 1999, xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp 02 hình phạt là 07 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong ngày 26/8/2020.
Ngày 22/11/2021, Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép. Chưa chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/4/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2/ Lưu Văn N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/9/1976; Nơi cư trú: Khu phố N, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 00/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; H và tên cha: Lưu Văn T1 (chết), H và tên mẹ: Lê Thị L1, sinh năm 1931. Có 03 chị, 04 anh và 01 em. Vợ Lê Thị Hồng M, sinh năm 1975, có 02 con, con lớn sinh năm 2005 và con nhỏ sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 14/11/1996, Tòa án nhân dân thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản. Ngày 01/9/2020 chấp hành xong.
Ngày 11/3/2025, Công an P1, thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chưa chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2025 tại Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
3/ Võ Văn V (Tên gọi khác: Mọi), sinh ngày 12/6/1997; Nơi cư trú: khu phố N, Phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Võ Văn D, sinh năm 1970, H và tên mẹ: Phạm Thị Kim L2, sinh năm 1970. Có 01 chị và 02 anh.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 10/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 04/05/2016.
Ngày 01/9/2017, Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Chấp hành xong bản án ngày 26/09/2021.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2025 tại Phường A, thành phố T.
4/ Lê Trọng T2 (Tên gọi khác: C1), sinh ngày 28/4/1995; Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Lê Văn P, sinh năm 1962, H và tên mẹ: Dương Thị D1, sinh năm 1959. Có 05 chị và 01 anh.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 07/10/2019, Toà án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt là 01 năm 06 tháng tù. Ngày 05/3/2021, chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2025 tại xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1998; Địa chỉ: khu phố L, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 27/10/2024, Lưu Văn N điều khiển xe mô tô biển số 78P1 - 6274 của N đến nhà Võ Văn V chơi. Đến nhà V, N thấy V, Lê Trọng T2 đang ăn nhậu, N rủ V, T2 đến nhà anh Nguyễn Văn S1 tại khu phố L, Phường I, thành phố T trộm cắp xe mô tô, V, T2 đồng ý. N nói V gọi điện thoại rủ Trần Văn L cùng tham gia trộm cắp tài sản, L đồng ý, N điều khiển xe mô tô chở L đến nhà V. Khoảng 23 giờ, cùng ngày, N điều khiển xe mô tô của N chở L ngồi giữa, T2 ngồi sau đến nhà anh S1, rồi T2 điều khiển xe quay về chở V đến nhà anh S1. Lúc này, N, L leo qua hàng rào lưới B40 vào trong sân nhà anh S1, N sử dụng 02 thanh kim loại và kiềm có sẵn tại nhà anh S1, phá ổ khoá cửa vào trong nhà, dắt 03 xe mô tô biển số 78F3- 1503, 85V4 - 0198 và 78C1 - 211.56 để tại khu vực nhà trước, L sử dụng kiềm, cắt lưới hàng rào B40 dắt xe ra ngoài. T2 điều khiển xe mô tô của N; V điều khiển xe mô tô biển số 78F3-1503; N điều khiển xe mô tô biển số 85V4-0198; Lại điều khiển xe mô tô biển số 78C1- 211.56 cùng đem về nhà V cất giấu. V sử dụng xe mô tô biển số 85V4- 0198 làm phương tiện đi lại và bị mất, 02 xe mô tô biển số 78C1 - 211.56, 78F3-1503 bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ (Bút lục số 88-95, 230-273, 342-384).
Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu đỏ, biển số 78F3 - 1503 trị giá 9.000.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Ganassi, loại 110-1, màu đen ghi, biển số 85V4 - 0198 trị giá 3.250.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Piaggo, loại VRSPALX125, màu đỏ, biển số 78C1 - 211.56 trị giá 11.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 23.250.000 đồng (Bút lục số 353-353a).
Các bị cáo Trần Văn L, Lưu Văn N, Võ Văn V, Lê Trọng T2 đã thành khẩn khai báo; N, V, T2 đã bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn S1 số tiền 3.500.000 đồng; anh S1 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả 4 bị cáo. Bị cáo Trần Văn L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
Vật chứng, đồ vật, tài sản tạm giữ: Có bản kê kèm theo.
Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.
Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 06/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố các bị cáo Trần Văn L, Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo trình bày diễn biến hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Cả bốn bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo N không yêu cầu gì về chiếc xe máy và điện thoại bị thu giữ, và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Bị cáo V xin không nhận lại chiếc điện thoại bị thu giữ.
Người bị hại Nguyễn Văn S1 trình bày: Đã nhận tiền bồi thường 3.500.000 đồng của các bị cáo V, T2 và N và xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 04 bị cáo. Đồng thời, anh S1 xin nhận lại 01 chiếc xe moto nhãn hiệu Piaggio, biển số 78C1-211.56 và 01 xe moto nhãn hiệu Wave, loại C100, màu đỏ và 03 giấy tờ xe đang bị thu giữ tại Cơ quan điều tra.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa trình bày lời luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX chấp nhận nội dung cáo trạng, tuyên bố các bị cáo Lưu Văn N, Trần Văn L, Võ Văn V và Lê Trọng T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn L;
Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2;
Xử phạt:
Bị cáo Trần Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/4/2025.
Bị cáo Lưu Văn N từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Bị cáo Võ Văn V từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Bị cáo Lê Trọng T2 từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung cho cả bốn bị cáo.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xét.
Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Mio Autimo, màu đỏ, biển số 78P1-6274 của bị cáo Lưu Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S của bị cáo V.
Trả cho bị cáo Lưu Văn N 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu vàng.
Trả lại cho người bị hại Nguyễn Văn S1 01 (một) xe moto nhãn hiệu Piaggio, loại VRSPALX1, màu đỏ, số khung: 6110AV009216, số máy: M663M4010609, biển số 78C1-211.56 và 01 (một) xe moto nhãn hiệu Wave, loại C100, màu đỏ, số máy: 0067318, số khung: 0067318; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy số 019063, mang tên Lê Thị Bích T3, sinh năm 1993, trú tại F N, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; 01 giấy đăng ký xe moto, xe máy số A0030815, mang tên Lương Tấn Đ, trú tại D L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; 01 giấy đăng ký xe moto, xe máy số 002757, mang tên Cù Thị Hồng M1, sinh năm 1987, trú tại: Khu C, B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo N, L, V và T2 đều biết hành vi của các bị cáo là sai. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu thập chứng cứ và các hoạt động tố tụng khác đảm bảo đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng nên không nhận xét gì thêm.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 27/10/2024, các bị cáo Trần Văn L, Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2 đã có hành vi trộm cắp tài sản 03 xe mô tô của anh Nguyễn Văn S1 tại khu phố L, Phường I, thành phố T.
Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu đỏ, biển số 78F3 - 1503 trị giá 9.000.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Ganassi, loại 110-1, màu đen ghi, biển số 85V4 - 0198 trị giá 3.250.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Piaggo, loại VRSPALX125, màu đỏ, biển số 78C1 - 211.56 trị giá 11.000.000 đồng.Tổng giá trị tài sản 23.250.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Trần Văn L, Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo N là người chủ mưu rủ các bị cáo T2 và V đi trộm cắp xe, bị cáo V rủ bị cáo L. Cả 4 bị cáo đều cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo N là người khởi xướng rủ các bị cáo khác đi trộm cắp, dùng xe của bị cáo N để chở V, T2, L đi đến nhà anh S1, N là người tích cực cùng với Lại trực tiếp phá khoá cửa, cắt lưới B40 nhà anh S1. Bị cáo N trực tiếp dắt 03 xe máy từ nhà anh S1 ra ngoài và N tiếp tục vào nhà anh S1 tìm kiếm tài sản khác. Sau đó, cả ba bị cáo N, lại và V điều khiển 3 xe máy trộm cắp đem về nhà V. Tại nhà V, các bị cáo thống nhất V gọi cho K để tiêu thụ xe nhưng không được nên V tháo biển số 02 xe máy quăng và đem cất giấu của V, N điều khiển xe hiệu Piaggio về nhà cất giấu, V sử dụng 1 chiếc xe máy làm phương tiện đi lại, còn lại 01 chiếc để cất giấu tại nhà V.
Bị cáo T2 khi được rủ đi trộm cắp tài sản đã đồng ý và tham gia chở V đến nhà anh S1 để lấy trộm tài sản và quay về. Tuy Thiện không tham gia lấy tài sản và không đem tài sản đi giấu nhưng T2 là đồng phạm với vai trò giúp sức cho các bị cáo khác thực hiện hành vi lấy tài sản trộm cắp.
Xét thấy, cả 04 bị cáo tuy thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm có tính chất giản đơn nhưng có sự phân hoá vai trò tham gia của từng bị cáo. Bị cáo N là chủ mưu cùng V, L và T2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương do đó cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo Trần Văn L, ngày 18/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 04/6/2023 chấp hành xong bản án nhưng chưa được xoá án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo N, T2, V và L đều thành khẩn khai báo và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho cả bốn bị cáo nên được áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo N, T2, V đã bồi thường cho người bị hại số tiền 3.500.000 đồng (N và T2 mỗi bị cáo 1.000.000 đồng, bị cáo V 1.500.000 đồng) nên được áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt theo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.
[6] Về đặc điểm nhân thân: Cả bốn bị cáo N, T2, V và L đều có nhân thân rất xấu nhưng các bị cáo đều không có thái độ khắc phục, sửa chữa bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật
Các bị cáo N, T2, V không có tiền án, tiền sự.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo như đã phân tích trên. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cho cả bốn bị cáo là phù hợp. Trong vụ án này các bị cáo đều là đồng phạm nhưng có sự phân hoá vai trò thực hiện hành vi phạm tội cũng như đặc điểm nhân thân nên khi HĐXX lượng mức hình phạt phải phù hợp với từng bị cáo. Bị cáo L bị áp dụng tình tiết tái phạm nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo N và V, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo T2 thấp hơn bị cáo V và T2 cũng có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo.
Các bị cáo không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn S1 đã nhận bồi thường 3.500.000 đồng của các bị cáo N, T2 và V và không yêu cầu gì nên không xét. Các tài sản gồm 01 chiếc xe moto nhãn hiệu Piaggio, biển số 78C1-211.56 và 01 xe moto nhãn hiệu Wave, loại C100, màu đỏ và 03 giấy tờ xe đang bị thu giữ tại Cơ quan điều tra thuộc sở hữu hợp pháp của người bị hại nên cần trả lại cho người bị hại Nguyễn Văn S1.
[9] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Mio Autimo, màu đỏ, biển số 78P1-6274, số khung RCLM23830AY039855 của bị cáo Lưu Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S, IMEI 1:862562055774232, IMEL 2:862562055774224 của bị cáo V là phương tiện của các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Trả cho bị cáo Lưu Văn N 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, kiểu dáng Redmi6, màu vàng đồng vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
Trả lại cho người bị hại Nguyễn Văn S1 01 (một) xe moto nhãn hiệu Piaggio, loại VRSPALX1, màu đỏ, số khung: 6110AV009216, số máy: M663M4010609, biển số 78C1-211.56 và 01 (một) xe moto nhãn hiệu Wave, loại C100, màu đỏ, số máy: 0067318, số khung: 0067318; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy số 019063, mang tên Lê Thị Bích T3, sinh năm 1993, trú tại F N, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; 01 giấy đăng ký xe moto, xe máy số A0030815, mang tên Lương Tấn Đ, trú tại D L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; 01 giấy đăng ký xe moto, xe máy số 002757, mang tên Cù Thị Hồng M1, sinh năm 1987, trú tại: Khu C, B, P - T, Ninh Thuận.
[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn L, Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2;
Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn L;
Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt:
- Bị cáo Trần Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/4/2025.
- Bị cáo Lưu Văn N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Bị cáo Võ Văn V 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Bị cáo Lê Trọng T2 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Mio Autimo, màu đỏ, biển số 78P1-6274, số khung RCLM23830AY039855 của Lưu Văn N; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S, IMEI 1:862562055774232, IMEL 2:862562055774224 của bị cáo Võ Văn V.
Trả cho bị cáo Lưu Văn N 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi, kiểu dáng Redmi6, màu vàng đồng.
Trả lại cho người bị hại Nguyễn Văn S1 01 (một) xe moto nhãn hiệu Piaggio, loại VRSPALX1, màu đỏ, số khung: 6110AV009216, số máy: M663M4010609, biển số 78C1-211.56 và 01 (một) xe moto nhãn hiệu Wave, loại C100, màu đỏ, số máy: 0067318, số khung: 0067318; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe moto, xe máy số 019063, mang tên Lê Thị Bích T3, sinh năm 1993, trú tại F N, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; 01 giấy đăng ký xe moto, xe máy số A0030815, mang tên Lương Tấn Đ, trú tại D L, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; 01 giấy đăng ký xe moto, xe máy số 002757, mang tên Cù Thị Hồng M1, sinh năm 1987, trú tại: Khu C, B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.)
Về án phí: Các bị cáo Trần Văn L, Lưu Văn N, Võ Văn V và Lê Trọng T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Tùng Linh Lương Văn Cang |
Bùi Thị Thuỳ Trân |
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
- TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND TP. Tuy Hòa; - PC02 và PV06 Công an tỉnh Phú Yên; - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Thuỳ Trân |
Bản án số 48/2025/HSST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 48/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO LẠI VÀ ĐỒNG PHẠM
