TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HSST
Ngày: 25/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Ngô Thị Yêm.
- 2. Ông Phạm Mạnh Hà.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Đức T - Sinh năm 1991; Tại: Hà Nội; Tên khác: Không; Nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Q; Con bà: Trần Thị B; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Theo D, chỉ bản số 530 của Công an quận L lập ngày 24/10/2024 và Trích lục tiền án, tiền sự số 6703106/2024/PV06 ngày 07/11/2024 thể hiện bị cáo có 06 tiền án:
- - Ngày 29/02/2008, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 60 tháng về tội Cướp tài sản (Bản án số 41/2008/HSST ngày 29/02/2008).
- - Ngày 26/01/2010, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử 08 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản. (Bản án số 10/2010/HSST ngày 26/01/2010). Tổng hợp với 30 tháng tù của Bản án số 41/2008/HSST ngày 29/02/2008 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh là 38 tháng tù. Ra trại ngày 30/8/2011.
- - Ngày 10/8/2012, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. (Bản án số 166/2012/HSST ngày 10/08/2012). Ra trại ngày 26/9/2014.
- - Ngày 30/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Bản án số 84/2016/HSST ngày 30/6/2016). Ra trại ngày 03/4/2018.
- - Ngày 14/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Bản án số 93/2019/HSST ngày 14/8/2019) Ra trại ngày 18/4/2021.
- - Ngày 14/01/2022, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử 32 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Bản án số 05/2022/HSST ngày 14/01/2022). Ra trại ngày 22/5/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn S - Sinh năm: 1996; Tại: Hà Nội; Tên khác: không; Nơi thường trú: Thôn K, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H; Con bà: Tạ Thị N; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn và chưa có vợ con; Tiền án tiền sự: Theo D, chỉ bản số 529 của Công an quận L lập ngày 24/10/2024 và Trích lục tiền án, tiền sự số 6703194/2024/PV06 ngày 07/11/2024 thể hiện bị cáo có 03 tiền án:
- - Ngày 06/7/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Bản án số 445/2020/HS-PT ngày 06/07/2020).
- - Ngày 17/5/2021, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Bản án số 155/2021/HSST ngày 17/5/2021). Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại bản án số 445/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 21 tháng tù. Ra trại ngày 10/4/2022.
- - Ngày 15/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Bản án số 11/2023/HSST ngày 15/02/2023). Ra trại ngày 21/7/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại:
- Chị Phan Anh H1, sinh năm 1992.
- Nơi cư trú: Xóm C, thôn C, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại Cơ quan Công an Nguyễn Văn S và Nguyễn Đức T khai nhận: S và Nguyễn Đức T quen nhau qua hội nhóm “Mua bán xe không giấy” được khoảng hơn 1 tháng. Do không có công ăn việc làm ổn định nên T có rủ S đi trộm cắp xe máy, S đồng ý. S và T rủ nhau thuê phòng ở nhà nghỉ H2 ở thôn B, xã K, huyện Đ, Hà Nội được khoảng 3 ngày. Khoảng 18h50' ngày 22/10/2024 S và T đi xe Vision màu xám của T ra gầm cầu T ngồi uống nước thì T bảo: “Bây giờ đi thấy xe nào ngon, dễ thì lấy”. S đồng ý rồi cả hai lên xe đi vào khu vực nhà dân gần cầu T để tìm xe nào người dân để sơ hở sẽ trộm cắp. Khi đi được khoảng 30 phút thì thấy 01 xe Honda Vision màu xám của chị Phan Anh H1 (sinh năm: 1992; trú tại: xóm C, thôn C, xã H) để trước cửa nhà đầu xe hướng quay vào trong, T bảo S: “xuống xem lấy được không”. S xuống xe đi bộ vào kiểm tra thấy xe không khóa cổ, khóa càng, không có còi báo động nên đã dắt xe ra. Do không có chìa khóa xe máy nên S ngồi lên xe máy vừa lấy trộm được, còn T đi xe máy của T đi phía sau để đẩy xe vừa trộm cắp được về nhà bố mẹ nuôi của T tại khu vực ngõ I, phố G, phường T, quận L. S soi điện thoại để T tháo biển số xe, tháo IC xe, mở phần trước mặt xe để kiểm tra xem có thiết bị định vị không và rút điện bình ắc quy tránh bị định vị. Đến khoảng 21h00' cùng ngày thì S và T bị tổ công tác Công an quận L kiểm tra và đưa về trụ sở để làm việc.
Ngày 24/10/2024, hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám đen, BKS : 22Y1 - 339.94, số máy: TK03E-7907411; số khung: RLHJK0354PZ207339 trị giá: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu xám-đen có số khung: RLHJK0354PZ207339, số máy: JK03E7907411; 01 biển kiểm soát 22Y1-339.94; 01 IC xe máy; 01 mặt nạ xe máy nhãn hiệu Honda màu xám; 01 lót để chân màu đen có chữ Vison; 01 nắp nhựa bình ắc quy; 01 gương chiếu hậu là tài sản hợp pháp của chị H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng trao trả cho chị Phan Anh H1.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu xám-đen có số khung: RLHJK0355RY143563, có số máy: JK03E3464732 và một biển kiểm soát 29BG-028.18, T khai mượn của một người bạn tên Đ nhưng không rõ tên và địa chỉ cụ thể. Kết quả điều tra xác định: chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc Tiến D1 (SN: 2006, HKTT: tổ B, phường N, quận C, Hà Nội), đăng ký ngày 20/08/2024. Tại cơ quan điều tra anh Nguyễn Ngọc Tiến D1 khai: Khoảng 21h30' ngày 10/9/2024, anh D1 điều khiển xe máy hiệu Honda Vison màu xám-đen, có biển kiểm soát 29BC-061.30 nêu trên đến số G H, B1, T, Hà Nội để chơi B2-a. Khi đến nơi, anh D1 được nhân viên bảo vệ của quán hướng dẫn và để xe máy tại bên phải cổng chợ B3, phường B, quận T, Hà Nội. Đến khoảng 23h00' cùng ngày, anh D1 ra về thì phát hiện chiếc xe máy nêu trên đã bị trộm cắp. Ngày 16/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T để tiếp tục xác minh theo thẩm quyền.
Đối với 01 áo khoác màu đen, 01 bộ tua lơ vít, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen; 01 đối găng tay là vật chứng của vụ án nên chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để phục vụ công tác xét xử và 03 đoạn video hình ảnh liên quan vụ án lưu giữ trong 03 USB của Cơ quan điều tra, chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.
Về phần dân sự: chị Phan Anh H1 đã nhận lại xe và không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 24CT-VKS-ĐA ngày 10/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
+ Các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 42 đến 48 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 36- 42 tháng tù.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự nữa nên không phải đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác màu đen, 01 đôi găng tay chống nắng màu đen, 01 bộ T1 lơ vít, 01 sim số điện thoại 0969.235.xxx.
Các bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và các người bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn S tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản tạm giữ đồ vật cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[3] Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21h00' ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại thôn C, H, Đ, Hà Nội, bị can Nguyễn Đức T đã có hành vi cùng Nguyễn Văn S trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS : 29Y1-339.94 của chị Phan Anh H1. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện, mặc dù các bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng vẫn thể hiện sự coi thường pháp luật. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, buộc các bị cáo phải chịu một mức án tương xứng với hành vi của mình, tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự phân công, bàn bạc cụ thể. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Đức T là người khởi xướng, bị cáo Nguyễn Văn S là đồng phạm thực hiện hành vi trộm cắp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức T: Tại bản án số 05/2022/HSST ngày 14/01/2022 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xác định bị cáo tái phạm nguy hiểm và xử phạt bị cáo 32 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2024. Như vậy bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn S: Tại bản án số 11/2023/HSST ngày 15/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xác định bị cáo tái phạm và xử phạt bị cáo 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/07/2024. Như vậy bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại là chị Phan Anh H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do đó các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 173 các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Phan Anh H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tài sản có liên quan đến tội phạm có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 áo khoác màu đen, 01 đôi găng tay chống nắng màu đen, 01 bộ T1 lơ vít, 01 sim số điện thoại 0969.235.xxx thu giữ của các bị cáo đều là tài sản liên quan đến tội phạm và các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 03 chiếc USB lưu giữ 03 đoạn video hình ảnh liên quan vụ án là chứng cứ của vụ án, nên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/HSST ngày 15/10/2019.
[10] Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu xám-đen có số khung: RLHJK0355RY143563, có số máy: JK03E3464732 và một biển kiểm soát 29BG-028.18, T khai mượn của một người bạn tên Đ nhưng không rõ tên và địa chỉ cụ thể. Kết quả điều tra xác định: chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc Tiến D1 (SN: 2006, HKTT: tổ B, phường N, quận C, Hà Nội), đăng ký ngày 20/08/2024. Tại cơ quan điều tra anh Nguyễn Ngọc Tiến D1 khai: Khoảng 21h30' ngày 10/9/2024, anh D1 điều khiển xe máy hiệu Honda Vison màu xám-đen, có biển kiểm soát 29BC-061.30 nêu trên đến số G H, B1, T, Hà Nội để chơi B2-a. Khi đến nơi, anh D1 được nhân viên bảo vệ của quán hướng dẫn và để xe máy tại bên phải cổng chợ B3, phường B, quận T, Hà Nội. Đến khoảng 23h00' cùng ngày, anh D1 ra về thì phát hiện chiếc xe máy nêu trên đã bị trộm cắp. Ngày 16/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận T để tiếp tục xác minh theo thẩm quyền do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với các bị cáo, về trách nhiệm dân sự, về việc xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật.
[12] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt: Nguyễn Đức T 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt: Nguyễn Văn S 38 (ba mươi tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác màu đen, 01 đôi găng tay chống nắng màu đen, 01 bộ T1 lơ vít, 01 sim số điện thoại 0969.235.xxx.
(Tình trạng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/02/2025 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1 mục I phần A - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016).
+ Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Thị Thu Hà |
Bản án số 48/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 48/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đức T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
