Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 48/2025/HSST

Ngày 19/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Kiên;La Thị Thành.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên: Bà Kiều Thị T Kiểm sát viên

Ngày 19/03/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: HOÀNG VĂN N, Giới tính: nam; Sinh ngày 20/3/2001, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt;Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Hoàng Văn P, sinh năm 1980 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1984; Gia đình bị cáo có 02 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/8/2024, tạm giam từ ngày 21/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (nay là P1 trại tạm giam khu vực huyện T) cho đến nay (có mặt).

2. Họ và tên: HOÀNG VĂN L, Giới tính: nam; Sinh ngày 12/02/2003, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt;Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Hoàng Văn P, sinh năm 1980 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1984; Gia đình bị cáo có 02 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/8/2024, tạm giam từ ngày 21/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (nay là P1 trại tạm giam khu vực huyện T) cho đến nay (có mặt).

Người làm chứng:

1

  1. Lò Văn V, sinh năm 1988.
  2. Nùng Văn N, sinh năm 1984.

(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 10/8/2024, Hoàng Văn N1 thuê xe ôm của một người đàn ông không rõ lai lịch chở từ nhà tại bản C, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản H, xã T, huyện T tìm mua Heroine. Tại bản Hô Ta, xã T, Nguyễn gặp và mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được H, Nguyễn M1 về nhà tại bản Chát, xã M, huyện T chia thành 09 gói (từng gói đều được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ). Còn lại một ít vụn, Nguyễn cùng với em trai là Hoàng Văn L sử dụng hết. Sau đó, Nguyễn cất G 09 gói Heroine vào trong ốp lưng điện thoại của mình không cho ai biết, mục đích: để bán.

Đến khoảng 14 giờ ngày 11/8/2024, Hoàng Văn N1 đang ở nhà thì có Lò Văn V, sinh năm: 1988; cư trú tại bản O, xã K, huyện T gọi điện thoại từ số thuê bao 0374090146 của Viện đến số thuê bao 0868045313 của Hoàng Văn N1. Qua điện thoại, V hỏi mua 02 gói Heroine, N1 đồng ý. Cả hai thống nhất mua bán, giao nhận Heroine tại đoạn đường bị sạt lở thuộc bản N, xã M, huyện T. Sau khi hẹn bán Heroine với V, Nguyễn lấy 02 gói Heroine đưa cho em trai là Hoàng Văn L và bảo L mang đến đoạn đường bị sạt lở thuộc bản N, xã M để bán cho Viện. L cầm 02 gói Heroine đến địa điểm như N1 đã hẹn thì gặp Lò Văn V và Nùng Văn N, sinh năm 1994; cư trú tại bản C, xã M, huyện T đang đứng chờ. L đưa cho V và N mỗi người 01 gói Heroine. Viện và N cầm Heroine rồi mỗi người đưa lại cho L 100.000 đồng, tổng là 200.000 đồng. L cầm tiền rồi đi về còn V và N lấy số Heroine vừa mua được ra sử dụng hết. Về đến nhà, L đưa số tiền bán Heroine 200.000 đồng cho N1.

Khoảng 13 giờ ngày 12/8/2024, Lò Văn V tiếp tục gọi điện thoại cho Hoàng Văn N1 hỏi mua 100.000 đồng Heroine, N1 đồng ý bán và bảo Viện đến cổng nhà của N1 tại bản Chát, xã M để giao nhận. Một lúc sau, V và N đến cổng nhà của N1. Thấy hai người đến, Nguyễn lấy trong ốp điện thoại ra 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ) đưa cho L cầm gói Heroine đi xuống cổng gặp Viện và N. N nói với L “mua 100.000 đồng”, L đưa cho N gói Heroine đang cầm. Sau đó, V bảo L “mua thêm 01 gói nữa”. L quay vào nhà bảo Nguyễn bán thêm 01 gói Heroine nữa. N1 đưa thêm cho L 01 gói Heroine cầm mang xuống cổng đưa cho Viện. Nhận được H, V và N mỗi người đưa cho L 100.000 đồng rồi đi về. L cầm tiền tổng số tiền 200.000 đồng vào nhà đưa cho N1. Mua được H, V và N đi về đến bản N, xã M, huyện T, thì lấy số Heroine vừa mua được ra sử dụng. Khi N và V vừa sử dụng Heroine xong thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ của Lò Văn V và Nùng Văn N gồm 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa màu đỏ và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

2

Trên cơ sở lời khai của Viện, N và kết quả xác minh, Cơ quan Điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp, giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn N1, Hoàng Văn Liên H1 16 giờ 30 phút ngày 12/8/2024, thu giữ của Hoàng Văn N1 05 gói Heroine (từng gói được gói bằng được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ) và số tiền 200.000 đồng do bán Heroine mà có. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Hoàng Văn N1 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu trắng, mặt sau có chữ Iphone, có lắp 01 sim và 01 ốp điện thoại màu đỏ-đen (đã qua sử dụng).

Kết luận giám định số 82 ngày 12/8/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 1014 ngày 14/8/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn N1 có tổng khối lượng: 0,11 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”. Kết luận giám định số 1020 ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số tiền 200.000đ gửi giám định là tiền thật”.

Vật chứng của vụ án: 05 gói Heroine có tổng khối lượng 0,11 gam, đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật, còn lại số tiền 200.000 đồng, 05 mảnh giấy trắng có dòng chữ, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kèm theo 01 sim và 01 ốp lưng màu đỏ đen (tất cả đều đã qua sử dụng) và 03 phong bì niêm phong vật chứng hiện đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 17/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố các bị cáo Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b, điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38/Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo, đề nghị tuyên phạt bị cáo Hoàng Văn N1 mức án từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm 03 tháng tù, Hoàng Văn L mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST.

Về vật chứng đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu số tiền 200.000 đồng, truy thu 200.000 đồng tiền bán trái phép chất ma tuý và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng của Hoàng Văn N1 để sung vào ngân sách Nhà nước; Tịch thu 05 mảnh giấy trắng có dòng chữ, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã than

3

hoá, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 thẻ sim, 01 ốp lưng điện thoại và 01 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Sau khi mua trái phép 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng từ một người không rõ lai lịch, Hoàng Văn N1 mang Heroine về nhà tại bản Chát, xã M, huyện T chia thành các gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán. Trong các ngày 11/8 và ngày 12/8/2024, Hoàng Văn N1 và Hoàng Văn L đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, mỗi lần đều bán cho 02 người gồm Lò Văn V và Nùng Văn N, cụ thể:

Lần thứ nhất: khoảng 14 giờ ngày 11/8/2024, tại bản Nà Hày, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn N1 và Hoàng Văn L đã cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là Nùng Văn N, Lò Văn V lấy tổng số tiền 200.000 đồng.

Lần thứ hai: khoảng 14 giờ ngày 12/8/2024, tại bản Chát, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn N1 và Hoàng Văn L đã cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho Nùng Văn N, Lò Văn V lấy tổng số tiền 200.000 đồng.

Hành vi các bị cáo Hoàng Văn N1 và Hoàng Văn L thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi các bị cáo Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

4

[4]. Về mục đích phạm tội của các bị cáo: Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L đều là các đối tượng nghiện chất ma tuý. Hoàng Văn N1 mua trái phép chất ma túy, ngoài việc sử dụng cho bản thân, bị cáo còn mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác; Bị cáo Hoàng Văn L giúp sức cho Hoàng Văn N1 trong việc bán trái phép chất ma tuý nhằm thu lời bất chính.

[5]. Về nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L đều là những người được sinh ra trong một gia đình lao động, hai bị cáo là anh em ruột trong một gia đình và đều có tuổi đời còn rất trẻ nhưng các bị cáo không chịu khó tu dưỡng rèn luyện, làm ăn chân chính, mà lại thực hiện hành mua bán trái phép chất ma túy. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của các bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho cả hai bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này Hoàng Văn N1 là người chủ động đi mua ma tuý về nhằm bán lại kiếm lời, Hoàng Văn L là đối tượng giúp sức tích cực cho Hoàng Văn N1 trong việc bán trái phép chất ma tuý. Đối với 0,11 gam Heroine thu giữ của Hoàng Văn N1 thì Hoàng Văn L không biết, quá trình mua và cất giấu số Heroine này để bán, Nguyễn không bàn bạc với L nên bị cáo Nguyễn P2 một mình chịu trách nhiệm hình sự và L không đồng phạm đối với số Heroine này, vì vậy trách nhiệm hình sự và hình phạt bị cáo Hoàng Văn N1 phải chịu là nghiêm khắc hơn bị cáo Hoàng Văn L.

[6]. Về vật chứng: Đối với 0,11 gam Heroine của các bị cáo đã được dùng làm mẫu vật gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng của Hoàng Văn Nguyễn L1 phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, hoá giá để sung vào ngân sách Nhà nước; số tiền 200.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn N1 là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước, số tiền 200.000 đồng bán trái phép chất ma tuý mà có của Hoàng Văn N1 chưa bị thu giữ, cần truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước; 05 mảnh giấy trắng có dòng chữ, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 sim điện thoại di động, 01 ốp lưng điện thoại và 01 phong bì niêm phong vật chứng là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

[7]. Các vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, Hoàng Văn N1

5

khai mua từ một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn V và Nùng Văn N, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Đối với người đàn ông chở N1 đến bản H, xã T, huyện T mua H vào ngày 10/8/2024, Hoàng Văn N1 không rõ lai lịch của người này nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Đối với hành vi của Hoàng Văn N1 cho Hoàng Văn L một ít Heroine để sử dụng vào ngày 10/8/2024, xét thấy: đây là hành vi đơn giản của người nghiện có chất ma túy cho người nghiện khác cùng sử dụng trái phép, không có sự chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác. Do vậy cơ quan điều tra không xử lý Hoàng Văn N1 về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

[8]. Về án phí: Cả hai bị cáo đều phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b, điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, Điều 17, Điều 58 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N1 08 (tám) năm tù.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù cả hai bị cáo tính từ ngày 12/8/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo.

  1. Về vật chứng: Tịch thu 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng để hoá giá, sung vào ngân sách Nhà nước, tịch thu 200.000 đồng, truy thu 200.000 đồng tiền bán trái phép chất ma tuý mà có của Hoàng Văn N1 để sung vào ngân sách Nhà nước; Tịch thu 05 mảnh giấy trắng có dòng chữ, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 sim điện thoại, 01 ốp lưng điện thoại và 01 phong bì niêm phong vật chứng để tiêu huỷ.

Các vật chứng, đồ vật, tài sản nêu trên (trừ số tiền cần truy thu) đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm

6

vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  1. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn N1, Hoàng Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - PV06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Phân trại tạm giam khu vực T;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan ĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đoàn Trung Phước

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HSST ngày 19/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 48/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn N và Hoàng Văn L là anh em ruột nhiều lần bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger