|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HSST
Ngày: 20/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Sửu; Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến với 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến – Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến – Trại tạm giam Công an tỉnh N, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2025/HSST, ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/HSST- QĐ ngày 30/5/2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Đức T - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/01/1997; Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Phan Thị N; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Văn Q - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/10/2006; Nơi cư trú: Xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị H; Vợ: Nguyễn Thị H1; Con: Có 01 con, sinh năm 2023; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T2 - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/8/2006; Nơi cư trú: Xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị L; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Đức M1 - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/10/1999; Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Phan Thị N; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 25/10/2023 bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, hiện đang chấp hành án.
Bị cáo bị bắt tam giam từ ngày 15/4/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Năm 2022 bị Công an huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/4/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 25/10/2023 bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/4/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/4/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 12/02/2025, tại nhà của Nguyễn Văn Q, ở xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có tổ chức ăn uống trong đó có Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức M1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn B, sinh năm 2006, Nguyễn Bá P, sinh năm 2007 (đều trú ở xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) và Nguyễn Thị H1, sinh năm 2007 (là vợ của Nguyễn Văn Q). Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, thì Q rủ T2, T, M1, B và P đi hát karaoke tại quán Đ, thuộc khối C, thị trấn D, huyện T, tỉnh Nghệ An thì mọi người đồng ý.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, chị H1 nghe thông tin phản ánh về việc Q có ý định đánh nhau với người khác ở thị trấn D, huyện T, nên đi tìm Quyền. Do H1 không có xe, nên đã gọi điện cho anh Đinh Văn H2, sinh năm 2003, trú tại thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (là bạn của Huế) đến đón H1 đi tìm Q (lúc này, H2 đang chơi B1-a với bạn bè ở quán Đ-a Đêm T3). Khi H2 chở H1 đến thị trấn D, do không biết Q ở đâu nên H1 đi cùng H2 vào quán Đ, thuộc khối C, thị trấn D để chơi và xem mọi người đánh B1-a. Lúc này, thì Q cùng với bạn bè đang hát karaoke ở quán Đ (cạnh quán Đ-a mà H1 đang ngồi chơi; cách khoảng 30m). Trong lúc mọi người đang hát karaoke, Nguyễn Bá P đi ngang qua quán Đ-a Đêm Trắng thấy Huế đang trong quán, nên P vào phòng hát nói với Q “Mi trốn đi, vợ mi đang đi tìm mi trên quán Bi-a”. Sau khi nghe P nói vậy, Quyền bức xúc vì nghĩ Huế đi chơi Bi-a với ai đó và cho rằng có người đàn ông nào đón vợ mình đi chơi, nên Q ghen tuông. Quyền nói mọi người tắt nhạc và nghỉ để đến quán Đ-a tìm H1 (lúc này, Q không biết H1 đi cùng H2, chỉ nghĩ là H1 đi cùng với 01 người đàn ông đến quán Đ; Mục đích đến đó để xem có đúng hay không và yêu cầu Huế về nhà). Khi ra khỏi phòng hát, Q đưa tiền cho T2 thanh toán; còn Q cùng B và P đi bộ lên quán Đ (từ chỗ thanh toán tiền đến vị trí quán Đ khoảng 30m). Khi đi đến quán Đ-a Đêm T thì Q thấy H1 cùng H2 và một số người đang trong quán Đ-a. Quyền đi vào quán gặp H1 nói “Ai chở mi qua đây”, H1 trả lời “thằng H2”; H1 vừa nói xong, thì Q đi lại chỗ H2 đứng và dùng tay trái tát H2 một cái trúng vào mặt; H2 ôm Quyền lại để giải thích và nói “mi bị thần kinh à”. Sợ xảy ra đánh nhau, nên chị Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Văn T4 (Chủ quán Bi-a) cùng mọi người xung quanh lại can ngăn (Trong quán Đ-a có một số người đang chơi Bi-a) nhưng Q vẫn tiếp tục lao vào dùng tay đấm nhiều cái vào vùng đầu, mặt của H2. Lúc này, T, M1 và T2 từ cửa quán đi vào thấy Q đánh H2, nên cả 03 cùng lao vào hỗ trợ Q và dùng tay đấm liên tiếp vào vùng đầu, vùng mặt của H2, làm cho khu vực trong quán Đ-a náo loạn, ồn ào (việc T, M1, T2 đánh H2 là phát sinh tức thì, không có sự trao đổi thoả thuận từ trước). Mọi người xung quanh vào can ngăn, ôm và kéo Q, T, M1, T2 ra để không đánh H2 nữa. Tuy nhiên, do đông và lộn xộn, nên nhóm của Q vẫn lao vào dùng tay đánh H2 liên tiếp. Mặc dù được mọi người can ngăn nhiều lần, nhưng Q, T, M1 và T2 vẫn liên tiếp lao vào dùng tay để đánh H2. Trong lúc đánh nhau lộn xộn, thì Nguyễn Đức T đã tự mình đi lại khu vực giá treo gậy Bi-a, lấy 01 gậy gỗ (loại gậy sử dụng để chơi Bi-a) rồi đi lại gần chỗ H2 đang đứng (H2 đứng quay lưng về hướng T; cách khoảng 01 mét) rồi bất ngờ T đánh 01 cái từ trên xuống trúng vùng đầu của anh H2, làm cho H2 bị ngất, chảy máu và thương tích vùng đầu (việc T lấy gậy bi a đánh H2 thì T không trao đổi bàn bạc với Q, M1, T2 nên Q, M1, T2 không biết). Sau đó, mọi người xung quanh kéo T ra và đưa H2 đi điều trị tại bệnh viện Đa khoa huyện T đến ngày 13/02/2025 thì ra viện.
Ngày 16/02/2025, Cơ quan CSĐT có Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Văn H2. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 57/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025, của Trung tâm P1 – Sở Y kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Một vết thương phần mềm đỉnh đầu bên trái và một vết xây xát da trán bên trái, không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1; Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Văn H2 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
- Trong đó:
+ Vết thương phần mềm đỉnh đầu bên trái, có tỷ lệ: 01% (một phần trăm).
- Kết luận khác:
+ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 không quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể dành cho vết xây xát da, nên không có cơ sở để tính tỷ lệ tổn thương cơ thể vết xây xát da trên cơ thể Đinh Văn H2”.
Ngày 25/3/2025, Đinh Văn H2 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 20/02/2025, UBND thị trấn D, huyện T, tỉnh Nghệ An có báo cáo về việc nhóm thanh niên xã T, huyện T đã có hành vi hò hét, đánh nhau gây thương tích vào tối muộn ngày 12/02/2025, tại quán B2 trắng ở khối C, thị trấn D, huyện T đã làm nhiều người dân xung quanh hoảng sợ; hành vi trên của các đối tượng đã làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự công cộng tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân.
Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 gậy gỗ màu đen, xám, hình trụ tròn (loại gậy Bi-a); có chiều dài 148cm; đường kính chỗ rộng nhất phần đuôi gậy là 03cm; đường kính chỗ hẹp nhất phần đầu gậy là 01cm; Trên thân gậy bị gãy, nứt vỡ ở vị trí phần đuôi gậy. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng phòng PC10 Công an tỉnh N.
03 tệp video gồm: 01 tệp video có tên “6321776645339.mp4"; 01 tệp video có tên “6321777063205.mp4" và 01 tệp video có tên “6321777244913.mp4" được lưu trữ trong 01 thẻ nhớ, nhãn hiệu MIXIE, màu đen, dung lượng 32GB, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS - TC ngày 21/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Nguyễn Đức T về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Truy tố Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm h, khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đức T mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo chưa thi hành tại Bản án số 81/2023/HSST ngày 25/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn Q mức phạt tiền từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn T2 mức án từ 03 đến 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo chưa thi hành tại Bản án số 81/2023/HSST ngày 25/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đức M1 mức phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đinh Văn H2, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T4 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ màu đen, xám, hình trụ tròn (loại gậy Bi-a); có chiều dài 148cm; đường kính chỗ rộng nhất phần đuôi gậy là 03cm; đường kính chỗ hẹp nhất phần đầu gậy là 01cm; Trên thân gậy bị gãy, nứt vỡ ở vị trí phần đuôi gậy hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng phòng PC10 Công an tỉnh N.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp lời khai người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/02/2025, tại quán Đ thuộc địa phận khối C, thị trấn D, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đức T đã có hành vi dùng gậy B1-da và cùng Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Đức M1 dùng tay đuổi đánh Đinh Văn H2 (sinh năm 2003, trú tại thôn Y, xã T, huyên T, tỉnh Nghệ An) gây thương tích cho Đinh Văn H2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% (một phần trăm), gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và các hoạt động khác tại địa phương.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò giữa các bị cáo. Các bị cáo đều là những người thực hành.
Bị cáo Nguyễn Đức T là người có tiền án, ngày 25/10/2023, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” hiện đang chấp hành án, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, ông bà ngoại bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cũng cần xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt cũng đủ nghiêm để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T2 là người có nhân thân xấu, ngày 25/10/2023, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” hiện đang chấp hành án. Do đó cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại, ông bà ngoại bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đức M1 là những người thực hành tích cực. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi các bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ông nội các bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đinh Văn H2, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T4 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ màu đen, xám, hình trụ tròn (loại gậy Bi-a); có chiều dài 148cm; đường kính chỗ rộng nhất phần đuôi gậy là 03cm; đường kính chỗ hẹp nhất phần đầu gậy là 01cm; Trên thân gậy bị gãy, nứt vỡ ở vị trí phần đuôi gậy hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng phòng PC10 Công an tỉnh N.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm h, khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 54, Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Đức T.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Văn T2.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Đức M1.
Xử:
- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Xử phạt:
- - Xử phạt: Nguyễn Đức T 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 17/6/2023 về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 81/2023/HSST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2025.
- - Xử phạt: Nguyễn Văn T2 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 81/2023/HSST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- - Xử phạt: Nguyễn Văn Q 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- - Xử phạt: Nguyễn Đức M1 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ màu đen, xám, hình trụ tròn (loại gậy Bi-a); có chiều dài 148cm; đường kính chỗ rộng nhất phần đuôi gậy là 03cm; đường kính chỗ hẹp nhất phần đầu gậy là 01cm; Trên thân gậy bị gãy, nứt vỡ ở vị trí phần đuôi gậy hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng phòng PC10 Công an tỉnh N.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức T; Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Đức M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Bá Anh |
Bản án số 48/2025/HSST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 48/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Quyền và đồng phạm
