TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HSST Ngày: 19/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Hoàng Phương
Các Hội thẩm nhân dân :
- Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
- Ông Lê Văn Châu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Châu Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Đào Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình C - sinh năm 1972; Hộ khẩu thường trú: 103/6 D, tổ B, khu phố E, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Chưa xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Đình N (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H (Đã chết); Vợ: Ngô Lê Ái T; Có 01 con sinh năm: 2002; Tiền án, tiền sự: không. D chỉ bản số 584 lập ngày 07/10/2024 do Công an quận H lập. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Ông Vũ Thường Q - sinh năm 1952 ; Địa chỉ : Số C ngõ L, phường T, quận H, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh N1 - sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A N, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa);
- Bà Ngô Lê Ái T - sinh năm: 1976; Địa chỉ: Số A đường D khu nhà ở xã H, khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương
(Xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2017, qua quan hệ xã hội, ông Vũ Thường Q quen Nguyễn Đình C và được C cung cấp thông tin về việc C quen biết nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch tập đoàn H2, đồng thời cho ông Q xem ảnh C chụp cùng với lãnh đạo của Đảng, Chính phủ. Bên cạnh đó, C còn tự nhận mình có toàn quyền chọn thầu và sắp xếp công việc trong các dự án xây dựng cho Công ty của ông Q và bạn bè. Tuy nhiên, thực tế C không quen biết lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước hay doanh nghiệp, không có thẩm quyền trong việc chọn nhà thầu các công trình xây dựng đồng thời các hình ảnh Chiến chụp cùng các lãnh đạo cấp cao đều là ảnh đã được cắt ghép, chỉnh sửa.
Khoảng tháng 12/2017, qua phương tiện thông tin đại chúng, C biết thông tin hai dự án xây dựng: Cao tốc D - L; San lấp H - Hải Phòng sắp triển khai nên nói với ông Q sẽ sắp xếp việc cho công ty của ông Q và bạn bè trong hai dự án trên rồi yêu cầu ông Q đưa tiền cho C làm quà cho lãnh đạo để xin dự án. Để tạo sự tin tưởng, C tiếp tục nhắc lại bản thân quen biết nhiều lãnh đạo cấp cao cũng như có mối quan hệ thân thiết với lãnh đạo Bộ G, Chủ tịch Tập đoàn H2 là các đơn vị chủ quản của dự án. Tin lời C, ông Q đồng ý đưa tiền theo yêu cầu.
Sáng ngày 16/12/2017, ông Q gặp C và nhóm bạn là bà Ngô Thị H1 (SN: 1955; trú tại: A ngách H ngõ G T, phường P, quận Đ, Hà Nội), anh Nguyễn Văn L (SN: 1974; trú tại: Thôn K, xã M, huyện A, Hải Phòng), anh Đặng Hồng P (SN: 1973; trú tại: Số D ngõ A H, phường H, quận T, Hà Nội) tại quán cà phê số B H, phường L, quận H, Hà Nội. Tại đây, ông Q nhờ C sắp xếp việc làm cho công ty ông Q trong 2 dự án H - Hải Phòng và D - L. Sau đó, ông Q lấy số tiền 120 triệu đồng gồm 01 tập 240 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được bọc bằng giấy báo bên ngoài đưa cho C, C đếm tiền để vào túi áo ngực bên trong rồi hứa với ông Q sẽ xin được việc như thỏa thuận.
Khoảng vài ngày sau đó, C biết thông tin dự án 03 tòa nhà cao tầng của Tập đoàn H2 sắp triển khai nên gọi điện cho ông Quân giới T1 dự án trên cần đơn vị thi công ngay, yêu cầu ông Q chuyển thêm cho C 220 triệu đồng để C sử dụng xin việc cho ông Q trong cả 03 dự án và nói coi như tiền đặt cọc.
Ngày 22/12/2017, ông Q đến ngân hàng Đ (B) chi nhánh H3 - Hà Nội chuyển số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng số
113968 của Nguyễn Đình C tại Ngân hàng A với nội dung: VU THUONG QUAN DONG TIEN COC THAU SAN LAP HON DAU HAI PHONG VA 3 TOA NHA CAO TANG QUANG NINH CUA TAP DOAN HIM LAM.
Sau khi nhận tiền, C không sắp xếp được việc cho Công ty của ông Q và bạn bè như đã hứa hẹn.
Ngày 15/6/2018, sau nhiều lần yêu cầu Chiến trả lại tiền nhưng không được, ông Q đã đến Công an quận H tố giác sự việc.
Ngày 07/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã thu giữ của Nguyễn Đình C: 01 (Một) căn cước công dân số [...] cấp ngày 10/3/2021 mang tên Nguyễn Đình C; 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen số imei: 013410001425871; 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone xs màu vàng số imei: 357234092245731.
Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trao trả các đồ vật, tài liệu trên cho vợ C là chị Ngô Lê Ái T.
Người bị hại Vũ Thường Q trình bày phù hợp với nội dung vụ án nêu trên đồng thời trình bày quá trình điều tra gia đình bị can Nguyễn Đình C đã khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án nên đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Nguyễn Đình C.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình C khai nhận phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và tài liệu chứng cứ thu thập được. Sau khi nhận được tiền của ông Q, C chiếm đoạt 140 triệu đồng tiêu xài cá nhân, số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn) còn lại chuyển cho Nguyễn Thanh N1 để nhờ N1 sắp xếp công việc cho công ty của ông Q trong các dự án trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thanh N1 thừa nhận có nhận số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn) từ Nguyễn Đình C ngày 05/01/2018 nhưng là để N1 xin tài liệu dự toán thiết kế dự án L - Rạch S cho C, sau đó N1 đã chuyển tài liệu cho C theo đúng thỏa thuận, không phải mục đích xin việc trong các dự án của ông Q như thông tin C cung cấp. Do đó, không đủ cơ sở chứng minh Nguyễn Thanh N1 đồng phạm với Nguyễn Đình C.
Tại Bản cáo trạng số 399/CT-VKS-HBT ngày 27 tháng 12 năm 2024 đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Đình C như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do
hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/12/2017, tại địa chỉ số B H, phường L, quận H, Hà Nội và ngày 22/12/2017 tại B chi nhánh H3, bằng thủ đoạn gian dối Nguyễn Đình C đã chiếm đoạt của ông Vũ Thường Q với tổng số tiền là 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng chẵn).
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đình C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật để làm cho người bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho bị cáo nhằm mục đích để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Cụ thể, bị cáo đã có hành vi đưa ra các thông tin gian dối, các cam kết ngoài khả năng khiến ông Vũ Thường Q tin tưởng chuyển cho bị cáo số tiền 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng chẵn), sau đó chiếm đoạt, không thực hiện được
các cam kết đã đưa ra. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
[3]. Xét nhân thân bị cáo không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt, có giấy khen “Người tốt việc tốt” của Chủ tịch UBND phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ bị cáo là bà Ngô Lê Ái T có nhiều giấy khen về thành tích tốt trong công tác giảng dạy tại trường THPT T2, thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo Nguyễn Đình C không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Không.
[6]. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Không.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình C 09 (C1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Không.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về các vấn đề khác: Không.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Hoàng Phương |
Bản án số 48/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 48/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
