|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI Bản án số: 48/2025/HSST Ngày 15-12-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải; ông Nguyễn Sỹ Luận
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐ-XX ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Minh T (tên gọi khác: C1), sinh ngày 01 tháng 4 năm 2007; tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Đồng Nai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Huỳnh K (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 9 năm 2025 đến ngày 07 tháng 11 năm 2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Đoàn Thị S, sinh năm 1968; cư trú: Thôn Đ, xã P, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12 tháng 9 năm2025, Huỳnh Minh T đi bộ từ nhà của mình sang nhà bà Đoàn Thị S tại thôn Đ, xã P, tỉnh Đồng Nai để mượn bình xịt thuốc cỏ (bà S là thím của T). Đến nơi, thấy nhà bà S mở cửa nên T đi vào bên trong nhưng không có ai ở nhà. Khi đi trở ra, T nhìn vào phòng ngủ của bà S thì thấy có một con heo đất màu vàng để trên đầu tủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định, T đi vào phòng ngủ lấy con heo đất giấu vào trong áo trước bụng rồi đi về khu đất sau vườn nhà của mình và dùng 01 khúc cây có sẵn trong vườn đập con heo ra và nhìn thấy 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, T lấy toàn bộ số tiền trên bỏ vào 01 đoạn ống nhựa (13 x 02)cm rồi giấu vào đống đồ linh tinh ở trong vườn. Sau đó, T tiếp tục đi đến nhà bà S để tìm tài sản, khi đi vào phòng ngủ và thấy một bóp da bên trong có 02 cọc tiền, trong đó 01 cọc có tờ giấy nhỏ ghi 30.000.000 đồng gồm nhiều mệnh giá khác nhau được cột bằng sợi dây thun màu vàng; 01 cọc cột bằng dây thun gồm nhiều mệnh giá không rõ số tiền. T lấy cả 02 cọc tiền bỏ vào túi quần mang về vườn nhà của mình rồi dùng 02 bịch nylon màu đen bỏ toàn bộ số tiền trên vào rồi dùng 01 khúc cây và đào 01 cái hố rồi chôn dưới gốc cây gỗ mục trong vườn.
Sau khi cất giấu tài sản xong, T đi ra phía sau vườn nơi bà S đang làm cỏ hỏi mượn bình xịt thuốc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bà S vào nhà thì phát hiện bị mất tài sản nên khi T mang bình xịt cỏ đến trả thì bà S hỏi T có nhìn thấy ai vô nhà bà S không thì T nói có hai người thanh niên đến hỏi nhà nhưng T nói không biết rồi đi về. Đến 16 giờ 30 phút bà S đến cơ quan công an xã P trình báo.
Do biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện, nên ngày 13 tháng 9 năm 2025 T đến Cơ quan Công an đầu thú và tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu giữ và xác định:
Số tiền T cất giấu trong 01 khúc nhựa và 02 bịch nylong màu đen chôn dưới đất là 42.500.000 đồng bao gôm: 47 tờ mệnh giá 500.000 đồng; 89 tờ mệnh giá 200.000 đồng;11 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng được xác định là tài sản hợp pháp của bà S. Ngày 18 tháng 9 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà S và bà không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
Đối với 01 quần đùi màu xám, 01 áo thun ngắn tay màu xám là quần áo T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp; 01 khúc nhựa dài 13cm, đường kính khoảng 02cm; 02 bịch nylon màu đen dính nhiều bùn đất là tài sản của T dùng cất giấu tài sản trộm cắp do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tại Bản cáo trạng số 09/CTr-VKSKV11 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai truy tố các bị cáo T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo T từ 09 – 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 – 24 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-KV11 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai đã truy tố.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Biên bản thu giữ tài sản, vật chứng vụ án, Kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12 tháng 9 năm 2025, bị cáo T đến nhà bà S để mượn bình xịt thuốc diệt cỏ. Thấy nhà không có ai, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp và đã lấy một con heo đất trong phòng ngủ bà S mang về nhà đập lấy tiền. Sau đó bị cáo quay lại lấy thêm hai cọc tiền trong bóp da của bà S rồi mang về vườn nhà mình cho vào túi nylon và chôn giấu. Khi bà S phát hiện mất tài sản nên hỏi thì bị cáo nói dối rằng thấy hai thanh niên vào nhà có hỏi bị cáo nhưng bị cáo nói không biết rồi đi về. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, bà S trình báo tại Công an xã P. Biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện, nên ngày 13 tháng 9 năm 2025 bị cáo đến Cơ quan Công an để đầu thú và tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên khi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà S thì bị cáo phải nhận thức được đó là hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân và khi phát hiện sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại không có người trông coi thì bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà S với tổng số tiền là 42.500.000 đồng. Xét tính chất, mức độ do hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú; bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; tài sản chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại; trong vụ án này, người bị hại cũng có phần lỗi trong việc quản lý tài sản; quá trình điều tra người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền mà bị cáo cất giấu trong 01 khúc nhựa và 02 bịch nylong màu đen chôn dưới đất là 42.500.000 đồng (gồm các tờ tiền có mệnh giá: mệnh giá 500.000 đồng là 47 tờ; mệnh giá 200.000 đồng là 89 tờ; mệnh giá 100.000 đồng là 11 tờ; mệnh giá 50.000 đồng là 02 tờ) được xác định là tài sản hợp pháp của bà S. Ngày 18 tháng 9 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà S nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 quần đùi màu xám, 01 áo thun ngắn tay màu xám là quần áo bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp; 01 khúc nhựa dài 13cm, đường kính khoảng 02cm; 02 bịch nylong màu đen dính nhiều bùn đất là tài sản của bị cáo dùng cất giấu tài sản trộm cắp do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T (tên gọi khác: C1) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
-
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử hình phạt chính đối với bị cáo Huỳnh Minh T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đồng Nai quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 quần đùi màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu xám; 01 khúc nhựa (13x02)cm; 02 bịch nylong màu đen dính nhiều bùn đất.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số NK 25/25, ngày 13 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
-
Về án phí HSST:
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Huỳnh Minh T phải chịu 200.000 đồng.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VĂN PHÚ VINH |
Bản án số 48/2025/HSST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 48/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh Thuận phạm tội "trộm cắp tài sản"
