Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HS-ST

Ngày 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
  2. Bà Trần Thị Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Thị Uyên T; sinh năm 1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố T, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú trước khi bị bắt: 12/38N ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu Ngọc Q và bà Chế Thị Bích L; bị cáo đã có chồng và 01 con (sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2024. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Trần Thị Mộng N, sinh năm 1997. ( vắng mặt)

Địa chỉ: D ấp D xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Q1, sinh năm 1997. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt )

Địa chỉ: C N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Uyên T là người làm tại cửa hàng số H đường P, ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Trần Thị Mộng N làm chủ.

Chiều ngày 02/10/2024, T thấy bà N để chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng vào phía trước cầu thang thì nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại này để bán lấy tiền tiêu xài. T lén lút lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi vào nhà vệ sinh cất giấu sau đó ra ngoài tiếp tục làm việc như bình thường. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T vào nhà vệ sinh lấy điện thoại này bỏ vào túi áo khoác rồi bắt G đến cửa hàng điện thoại Hoàng Trần Q1 địa chỉ CN, phường B, quận B do anh Trần Q1 (sinh năm: 1997; thường trú: thôn Đ, Đ, M, Quảng Ngãi) làm chủ để bán chiếc điện thoại này với giá 5.000.000 đồng. T nói với ông Q1 là điện thoại của chồng cần bán. Sau đó, T mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng của ông Q1, trả trước số tiền 2.900.000 đồng, số tiền còn lại góp trong thời hạn 60 ngày.

Đến khoảng 18 giờ ngày 07/10/2024, khi bà N chuẩn bị 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu trắng để livestream bán hàng, lợi dụng lúc không có ai trông coi điện thoại thì T rút dây nguồn camera ghi hình rồi lén lút lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi vào nhà vệ sinh để cất giấu, sau đó quay lại chỗ làm việc. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi vào nhà vệ sinh lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác rồi đi ra bắt xe G về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày hôm sau, T bắt G đến cửa hàng mua bán điện thoại Hoàng Trần Q1 bán chiếc điện thoại Iphone 12 Pro màu trắng này cho ông Trần Q1 với giá 8.000.000 đồng. T nói điện thoại mua lại của khách cần bán. Do T đang nợ tiền mua góp điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu hồng nên ông Q1 chỉ trả cho T số tiền 4.890.000 đồng.

Đến 15 giờ ngày 08/10/2024, do nghi ngờ T nên bà N yêu cầu T chở N về phòng trọ của T tại địa chỉ A ấp A, xã X, huyện H để nói chuyện. Khi đến phòng trọ, N mượn điện thoại của T xem thì phát hiện tin nhắn Zalo giữa T và một tài khoản Zalo tên “Quí Bình T1” với nội dung mua bán điện thoại di động Iphone. Lúc này, T thừa nhận việc lấy trộm 02 điện thoại di động của bà N. Sau đó, N đưa T đến Công an xã X trình báo vụ việc như trên.

Ông Q1 đã giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu trắng mua của T trước đó cho Cơ quan điều tra để điều tra xử lý. Ông Q1 không biết 02 điện thoại di động mà T bán cho ông Q1 do T phạm tội mà có.

Kết luận định giá tài sản số: 209/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện H như sau:

  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng 128G, Imei 1: 356680115471160, Imei 2: 356680114627424 thời điểm định giá ngày 02/10/2024 có giá 7.000.000 đồng.
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng 128G, Imei 1: 356680115471160, Imei 2: 356680114627424 thời điểm định giá ngày 07/10/2024 có giá 7.000.000 đồng.

Tổng số tiền: 14.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Uyên T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu vàng 128G; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng 128G, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị Mộng N.
  • - 01 điện thoại di động Samsung A20S màu đen, số Imei 1: 354994117189437, Imei 2: 35495117189434
  • - 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 350852694107210, Imei 2: 350852694262478, sim gắn điện thoại: 0347.545.xxx (đã qua sử dụng). Đây là điện thoại mà T mua trả góp của T, T mới trả số tiền 6.010.000 đồng cho Q1. Quí xin nhận lại điện thoại Iphone 13 màu hồng trên.

Tại Bản cáo trạng số: 49/CT-VKSH.HM ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Thị Uyên T ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt: Trần Thị Uyên T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Samsung A20S màu đen, số Imei 1: 354994117189437, Imei 2: 35495117189434.
    • Trả lại cho ông Trần Q1: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 350852694107210, Imei 2: 350852694262478,
    • Tịch thu tiêu hủy sim gắn điện thoại: 0347.545.xxx.
  • - Về trách nhiệm dân sự:
    • Bà Trần Thị Mộng N đã nhận lại tài sản là 02 điện thoại Iphone 12 Pro, có đơn bãi nại, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường.
    • Ông Q1 nêu đã trả cho cho bị cáo T tổng số tiền 13.000.000 đồng để mua 02 điện thoại Iphone 12 Pro, bị cáo đã trả góp số tiền 6.010.000 đồng; Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường cho ông Q1 6.000.000 đồng tổng là 12.010.000 đồng, ông Q1 xác nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm;
    • Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Uyên T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo thừa nhận điện thoại Samsung A20S màu đen có sử dụng để liên lạc với ông Q1 để bán tài sản là 2 điện thoại trộm của bà N, đối với điện thoại iphone 13 màu hồng bị cáo đồng ý trả lại cho ông Q1 vì chưa trả đủ tiền.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Xét thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị hại nhưng bị hại vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 và Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

2.1. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh:

Ngày 02/10/2024, tại số H đường P, ấp A, xã X, huyện H, Trần Thị Uyên T đã lén lút trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động Iphone 12 pro màu vàng trị giá 7.000.000 đồng của bà Trần Thị Mộng N. Đến ngày 07/10/2024, T tiếp tục trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động Iphone 12 pro màu trắng trị giá 7.000.000 đồng của bà Trần Thị Mộng N. Tổng trị giá 02 điện thoại là 14.000.000 đồng.

[2.2] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số: 49/CT-VKSH.HM ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Thị Uyên T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[2.3] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, cần truy cứu trách nhiệm hình sự để xử lý mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường cho ông Q1 6.000.000 đồng khắc phục được một phần hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2.4] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu vàng 128G; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng 128G, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị Mộng N nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 điện thoại di động Samsung A20S màu đen, số Imei 1: 354994117189437, Imei 2: 35495117189434 (đã qua sử dụng). Bị cáo khai nhận có sử dụng để liên lạc với Q1 để giao dịch mua bán điện thoại trộm cắp được của bà N, có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 350852694107210, Imei 2: 350852694262478 có Sim gắn điện thoại: 0347.545.xxx đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với Iphone 13 màu hồng xét đây là tài sản của ông Q1 bán cho bị cáo, ông Q1 xin nhận lại, bị cáo cũng chưa trả hết tiền nên đồng ý trả lại iphone này cho ông Q1, Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Trần Thị Mộng N đã nhận lại tài sản là 02 điện thoại Iphone 12 Pro, có đơn bãi nại, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Q1 nêu đã trả cho cho bị cáo T tổng số tiền 13.000.000 đồng để mua 02 điện thoại Iphone 12 Pro, bị cáo đã trả góp số tiền 6.010.000 đồng và tác động gia đình bồi thường 6.000.000 đồng tổng 12.010.000 đồng, ông xác nhận đã nhận đủ nên không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Đối với hành vi của ông Trần Q1 mua lại 02 điện thoại di động Iphone 12 Pro từ bị cáo, ông Q1 không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, nên không xem xét hành vi này là phù hợp.

[2.7] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Uyên T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  2. Xử phạt bị cáo Trần Thị Uyên T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2024.

  3. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  4. Tạm giam bị cáo Trần Thị Uyên T thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

  5. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  6. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Samsung A20S màu đen, số Imei 1: 354994117189437, Imei 2: 35495117189434.

    Trả lại cho ông Trần Q1: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, số Imei 1: 350852694107210, Imei 2: 350852694262478,

    Tịch thu tiêu hủy sim gắn điện thoại: 0347.545.xxx.

    Vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2025.

  7. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  8. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Uyên T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
  10. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan điều tra Công an H. Hóc Môn;
  • - Chi cục Thi hành án DS H. Hóc Môn;
  • - Nhà tạm giữ Công an H. Hóc Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Hồng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 48/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Thị Uyên T 01 năm 03 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger