TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày 26-5-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Điền, bà Nguyễn Thị Tần
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Bùi Quang P - sinh năm 1990 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang M (Đã chết); con bà Hoàng Thị Kim H - sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị Kim T - sinh năm 1990; con: Có 03 con (Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2018/HSST ngày 11/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử phạt Bùi Quang P 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự, ngày 05/7/2018 chấp hành xong tiền phạt và án phí nên đã được xóa án tích; tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 13/01/2025 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thị Minh P1 - sinh 1984 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết); con bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1959; chồng: Nguyễn Đức T1 - sinh năm 1976; con: Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2015/HSST ngày 27/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử phạt Nguyễn Thị Minh P1 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự, ngày 30/10/2015 chấp hành xong phần dân sự và án phí nên đã được xóa án tích; tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 13/01/2025 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị Thu H2 - sinh 1980 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ B, khu F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc H3, sinh năm 1950 và bà Đoàn Thị C - sinh năm 1952; chồng: Bùi Văn S - sinh năm 1973; con: Có 02 con (Con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 13/01/2025 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
4. Đỗ Khánh T2 - sinh 1976 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Số nhà A, tổ C, khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Quốc B - sinh năm 1945 và bà Đặng Thị C1, sinh năm 1950; vợ: Trần Thị H4 - sinh năm 1980; con: Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 100/1996/HSST ngày 26/9/1996 của Tòa án nhân dân huyện Phong Châu xử phạt Đỗ Khánh T2 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải” theo điểm a khoản 1 Điều 186 Bộ luật Hình sự, tháng 11/1996 chấp hành xong án phí nên đã được xóa án tích; tạm giữ, tạm giam: Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 13/01/2025 thì áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc làm ổn định và muốn có thu nhập nên Bùi Quang P - sinh năm 1990, trú tại khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ nảy sinh ý định mua bán số lô, số đề với người khác để có thu nhập. P thống nhất với Nguyễn Thị Thu H2 - sinh năm 1980, trú tại khu F, thị trấn P, huyện P và Nguyễn Thị Minh P1 - sinh năm 1984, trú tại khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ về việc sử dụng ứng dụng Zalo trên điện thoại di động để thực hiện mua bán số lô, số đề với nhau, việc thanh toán tiền được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào ngày hôm sau.
Hình thức mua bán số lô, đề như sau:
Về số đề: Các số đề được so sánh với các số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì được trả theo tỷ lệ số đề hai số là 01 x 70 lần; số đề ba số là 01 x 400 lần. Nếu không trùng thì người chơi mất số tiền đặt mua.
Về số lô: Phú thoả thuận mua số lô của H2 là 22.000 đồng/01 điểm và mua số lô của P1 là 20.000 đồng/01 điểm, nếu kết quả của 27 giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày hôm đó có 2 số cuối cùng trùng với số lô đã mua thì sẽ được hưởng số tiền tương ứng 01 điểm lô x 80.000 đồng. Nếu không trùng thì người chơi mất số tiền đã đặt mua.
* Khoảng 17 giờ 30 ngày 09/01/2025, Nguyễn Thị Minh P1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, lắp sim số 0977607548 đăng nhập Zalo có tên “Dung Hoa” nhắn tin đến Zalo “Phú Toán” của Bùi Quang P mua các số lô đề qua 05 tin nhắn. Cụ thể:
Tin 1: Số đề 52, 86, 04, 11, 76, 53, 82, 93, 48, 84, 46, 96, 97, 13, 31, 14, 41, 49, 94, 59, 95 mỗi số đề 1.000.000 đồng, tổng số tiền mua số đề là 21.000.000 đồng; Số lô 13, 31, 14, 41, 49, 94 mỗi số lô 50 điểm, tổng 300 điểm tương ứng 6.000.000 đồng.
Tin 2: Số đề đầu 6 gồm các số 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 mỗi số đề 1.000.000 đồng. Số đề đầu 2 gồm các số 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29 mỗi số đề 500.000 đồng. Số đề đầu 3 gồm các số 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số đề 500.000 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề là 20.000.000 đồng.
Tin 3 gồm các số đề 42, 40 mỗi số 1.000.000 đồng. Tổng số tiền là 2.000.000 đồng.
Tin 4: Các số đề 12, 02, 43, 75, 03, 99, 16, 49, 56, 72, 00, 50, 92, 77, 45, 06, 57, 88, 14, 95, 59, 01, 79, 13, 54, 83, 44, 98, 05, 73, 89, 10, 41, 94 mỗi số đề 1.000.000 đồng. Số lô 59, 95 mỗi số 100 điểm. Tổng số tiền đề là 34.000.000 đồng, số tiền lô là 4.000.000 đồng.
- Tin 5: Số đề 55 mua 1.000.000 đồng.
Tổng số 05 tin nhắn mua số lô đề với số tiền tương ứng là 88.000.000 đồng. Sau khi P xác nhận các tin nhắn P1 gửi đến, P và P1 thống nhất mua bán số lô, số đề như trên.
* Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 09/01/2025, Nguyễn Thị Thu H2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, cài sim số 0989.275.775 đăng nhập Zalo có tên “B” nhắn tin đến số Zalo “Phú Toán” của Bùi Quang P mua các số lô đề qua 10 tin nhắn. Cụ thể:
- Tin 1: Lô 89, 98 x 15d; lô 68, 86, 15, 51 x 10d; Day: 13, 14, 34 x1 00n; 39, 93, 89, 98 x 250n; 19, 91, 69, 96, 36, 63, 68, 86 x 150n; 09, 90 x 100n; 59, 95 x 70n; 45, 54 x 40n. Tổng 70 điểm tương ứng 1.540.000 đồng; số tiền mua số đề là 5.020.000 đồng; tổng tiền là 6.560.000 đồng.
- Tin 2: Day: 22, 33, 44 ms 5n; 39, 93, 34, 43 ms100n; Day: 34ms 10n; 093, 239 ms 20n; 138, 983, 043 ms 10n; 07, 70, 55, 08, 02, 09 ms 10n Lo: 59, 95, 56, 65, 45, 54 ml 5đ; 20, 50, 80, 90, 52 ms 20n; 09, 38, 88 ms 12n 36, 63 x 60n. Số tiền mua số đề là 926.000 đồng; số tiền mua 30 điểm số lô bằng 660.000 đồng. Tổng số tiền là 1.586.000 đồng.
- Tin 3: Lo: 66 x 30d; Dd6 x 10n; 66 x 200n; Lo: 68 x 5d; 68,86 x 100d. de x500n; Day 13, 14, 34 x 200n; Dd 9 x 300n. Số tiền mua số đề là 12.200.000 đồng; số tiền mua 235 điểm số lô bằng 5.170.000 đồng. Tổng số tiền là 17.370.000 đồng.
- Tin 4: So: 07, 09, 70, 90, 52, 53, 54, 57, 77 ms 25n; 22.120n; 522, 622 ms 20n; 522, 622 ms 20n; Day 22.50n; Lo 22.5diem. Số tiền mua số đề là 585.000 đồng; số tiền mua 05 điểm số lô bằng 110.000 đồng. Tổng số tiền là 695.000 đồng.
- Tin 5: De 85.58 x 120n; 86.68 x 60n; 185,186 x 50n; 41,46 x 100n; 14,64 x 40n 11,66 x 40n; 16,61 x 36n. Tổng số tiền mua số đề là 862.000 đồng.
- Tin 6: 00.50n; 01.30n; 10 x 25n; 20 x 20n; 03,08,11 ms 15n; 18,21,80 ms 10n; 03,04,05,07,13,23,25,28,30,31,40,41,50,51,58,70,71,81,90,91 ms 5n. Tổng số tiền mua số đề là 300.000 đồng.
- Tin 7: De: 56,65,68,86,64,46,16,61,53,35 30n/1con; De: 61.200n; 11,66 x 50n; 16,61 x 36n; Day 34 x 80n; De 96 x 90n; 696 x 30n; 69,19,91 x 30n. Tổng số tiền mua số đề là 1.552.000 đồng.
- Tin 8: Dau dit C2. 10n/s; 30,36,35,53,60 ms 10n; 77x40n; 12,21 x 30n; 219,291 x 20n; 35,53 x 60n; 57,75 x 66n; 07,70 x 80n; 25,52 x 100n; 02,20,39,93,89,98 x 40n; Lô 07,70 x 10d. Số tiền mua số đề là 1.182.000 đồng; số tiền mua 20 điểm số lô bằng 440.000 đồng. Tổng số tiền là 1.622.000 đồng.
- Tin 9: 53,71,95 x 36n; 41,64 x 25n; 01,10,06,60 x 36n; 68 x 140n; 04,40,59,95 x 40n; 07,70 x 70n; Day 14 x 50n; 96 x 130n; 95,69,96,92,33 x 45n; 33 x 100n; 38,83 x 70n; 88 x 50n; Lô: 33,09,90,78,87,07,70, 89,98 x 10d. Số tiền mua số đề là 1.787.000 đồng; số tiền mua 90 điểm số lô bằng 1.980.000 đồng. Tổng số tiền là 3.767.000 đồng.
- Tin 10: Đít 6b.30ngh; 36,30,50,86 m con 30ngh; Lo: 85 x 20đ. Số tiền mua số đề là 420.000 đồng; số tiền mua 20 điểm số lô bằng 440.000 đồng. Tổng số tiền là 860.000 đồng.
Tổng số 10 tin nhắn mua số lô, đề với số tiền tương ứng là 35.174.000 đồng. Sau khi P xác nhận các tin nhắn H2 gửi đến, P và H2 thống nhất mua bán số lô, số đề như trên.
Đến hồi 18 giờ 15 phút ngày 09/01/2025, tổ công tác Phòng C3 Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang Bùi Quang P và Nguyễn Thị Thu H2 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Thu giữ của H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 5G, thu của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52s 5G.
Tiến hành kiểm tra dữ liệu điện tử từ điện thoại thu giữ của H2, Cơ quan điều tra còn làm rõ khoảng 18 giờ ngày 09/01/2025, H2 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề với Đỗ Khánh T2 - sinh năm 1976, trú tại khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ qua tin nhắn ứng dụng Telegram với số tiền là 6.600.000 đồng. Cụ thể:
Tin 1: Số lô 68, 86 mỗi số lô 100 điểm với giá 22.000đ/điểm tương ứng 4.400.000 đồng. Số đề 68, 86 mỗi số 500.000 đồng; số đề dây của 13, 14, 34 (gồm 24 số) tổng là 600.000 đồng.
Tin 2: Số đề đầu 9 gồm 10 số là 300.000 đồng và số đề đít 9 gồm 10 số là 300.000 đồng, tổng tiền số đề là 600.000 đồng.
Ngày 09 và ngày 10/01/2025, Đỗ Khánh T2, Nguyễn Thị Minh P1 đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra đầu thú, P1 giao nộp 01 điện thoại di động Vivo gắn sim số 0977.607.548, T2 giao nộp 01 điện thoại Iphone 14 Pro max gắn sim số 0961.023.976.
Tiến hành kiểm tra, trích xuất dữ liệu điện tử từ điện thoại thu giữ của P, H2 và T2. Việc đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, số tiền mua bán số lô, số đề thì P1 và H2 chưa thanh toán cho P, T2 chưa thanh toán cho H2.
Về tài sản của các bị cáo: Bị cáo T2 có nhà và đất tại huyện P, các bị cáo P, H2 và P1 không ai có tài sản gì có giá trị.
Thu nhập hằng tháng: Các bị cáo P, H2 và P1 không có thu nhập ổn định. Bị cáo T2 có thu nhập ổn định là 10.000.000 đồng/tháng.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKPT-P2 ngày 04 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Bùi Quang P và Nguyễn Thị Minh P1 về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ không thay đổi, bổ sung cáo trạng, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Quang P, Nguyễn Thị Minh P1, Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và
khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Quang P và Nguyễn Thị Minh P1.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H2.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Khánh T2.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 từ 24 tháng đến 27 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 04 ngày tạm giữ (từ ngày 09/01/2025 đến ngày 13/01/2025, quy đổi một ngày tạm giữ bằng ba ngày cải tạo không giam giữ) nên thời gian còn lại phải chấp hành là từ 23 tháng 18 ngày đến 26 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo cho UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo do không có thu nhập ổn định hằng tháng. Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
Xử phạt bị cáo Đỗ Khánh T2 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
3. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Quang P2. Phạt bị cáo Đào Quang P2 từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Khánh T2. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thị Minh P1.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G của bị cáo Bùi Quang P do sử dụng để đánh bạc.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 88.000.000 đồng (T3 mươi tám triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo2201 của bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 do sử dụng để đánh bạc.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 35.174.000 đồng (Ba mươi lăm triệu một trăm bảy mươi tư nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 5G của bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 do sử dụng để đánh bạc (Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 đã nộp xong số tiền này).
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của bị cáo Đỗ Khánh T2 do sử dụng để đánh bạc (Xác nhận bị cáo Đỗ Khánh T2 đã nộp xong số tiền này).
Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 0977607548 hiện đang lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 2201 của bị cáo Nguyễn Thị Minh P1; 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 0961023976 hiện đang lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của bị cáo Đỗ Khánh T2.
Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (Xác nhận các bị cáo đã nộp xong án phí).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo nhất trí và không có ý
kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Hành vi thực hiện của các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo Bùi Quang P, Nguyễn Thị Minh P1, Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Do không có việc làm ổn định và muốn có thu nhập, ngày 09/01/2025 Bùi Quang P, Nguyễn Thị Minh P1, Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề nên bị Công an tỉnh P bắt quả tang Bùi Quang P và Nguyễn Thị Thu H2 đã gửi tin nhắn mua bán số lô, số đề cho nhau. Kiểm tra điện thoại của Bùi Quang P thì có tin nhắn của Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thị Minh P1 về việc mua số lô, số đề của Bùi Quang P; điện thoại của Nguyễn Thị Thu H2 thì có tin nhắn của Đỗ Khánh T2 về việc mua số lô, số đề của Nguyễn Thị Thu H2 và tin nhắn của Nguyễn Thị Thu H2 gửi cho Bùi Quang P để mua số lô, số đề của Bùi Quang P. Số tiền đánh bạc của từng người như sau: Nguyễn Thị Thu H2 gửi tin nhắn cho Bùi Quang P để mua số lô, số đề với tổng số tiền là 35.174.000 đồng; Nguyễn Thị Minh P1 gửi tin nhắn cho Bùi Quang P để mua số lô, số đề với tổng số tiền là 88.000.000 đồng; Đỗ Khánh T2 gửi tin nhắn cho Nguyễn Thị Thu H2 để mua số lô, số đề với tổng số tiền là 6.600.000 đồng. Toàn bộ số tiền đánh bạc, Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thị Minh P1 chưa chuyển cho Bùi Quang P, Đỗ Khánh T2 chưa chuyển cho Nguyễn Thị Thu H2. Công an tỉnh P đã thu giữ của Bùi Quang P 01 điện di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52 S5, Nguyễn Thị Thu H2 01 điện di động nhãn hiệu OPPO Reno6, Nguyễn Thị Minh P1 01 điện di động nhãn hiệu Vivo V2201, Đỗ Khánh T2 01 điện di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax. Những chiếc điện thoại này là của Bùi Quang P, Nguyễn Thị Minh P1, Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 đã sử dụng chuyển và nhận tin nhắn để mua bán số lô, số đề với nhau.
Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; Vật chứng vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được đánh bạc là nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình và những tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn thực hiện hành vi đánh bạc để thu lời bất chính. Số tiền đánh bạc giữa bị cáo P và P1 là 88.000.000 đồng, giữa P và H2 là 35.174.000 đồng, giữa H2 và T2 là 6.600.000 đồng nên tổng số tiền đánh bạc của bị cáo P là 123.174.000 đồng, P1 là 88.000.000 đồng, H2 là 41.774.000 đồng, T2 là 6.600.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc của các bị cáo là vi phạm pháp luật nên không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Bùi Quang P và Nguyễn Thị Minh P1 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2
Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) ...;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên".
[3] Tính chất vụ án: Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Vì vậy, đưa các bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Vai trò đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn, không mang tính tổ chức. Bị cáo P là người khởi xướng đánh bạc sau đó đã đánh bạc với bị cáo P1 và H2, bị cáo H2 đánh bạc với bị cáo T2 nên vai trò của bị cáo P là chính, sau đó đến bị cáo H2, P1 và T2. Khi quyết định hình phạt thì xử phạt bị cáo P nghiêm khắc nhất sau đó đến bị cáo H2, P1 và T2 nhưng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
[5.1] Đối với bị cáo P: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo nộp tiền ủng hộ quỹ người nghèo của địa phương; ông nội của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì”. Nhân thân của bị cáo là đã bị xét xử nhưng đã được xóa án tích, tính từ ngày xóa án tích đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là trên 6 tháng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình là vợ thường xuyên bị ốm đau, các con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình nhưng thường xuyên phải chăm sóc vợ khi bị ốm đau và các con nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống
xã hội, chỉ cần phạt tù bằng mức khởi điểm của khung hình phạt và cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo 36 tháng tù, cho hưởng án treo là phù hợp với tính chất vụ án.
[5.2] Đối với bị cáo P1: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; ông nội của bị cáo được tặng kỷ niệm chương do có thành tích trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại Lào”. Nhân thân của bị cáo là đã bị xét xử nhưng đã được xóa án tích, tính từ ngày xóa án tích đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là trên 6 tháng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện bị cáo đang chăm sóc con nhỏ nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần phạt tù bằng mức khởi điểm của khung hình phạt và cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo 36 tháng tù, cho hưởng án treo là phù hợp với tính chất vụ án.
[5.3] Đối với bị cáo H2: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo nộp xong số tiền sử dụng đánh bạc bị tịch thu; bố đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất”. Nhân thân của bị cáo là tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng cải tạo không giam giữ là nghiêm khắc, chỉ cần phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, bị cáo bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy bị cáo là người lao động tự do, hằng tháng không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập nên phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[5.4] Đối với bị cáo T2: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; bị cáo nộp xong số tiền sử dụng đánh
bạc bị tịch thu; bị cáo nộp tiền ủng hộ chống dịch Covid 19 và xây nhà Văn hóa khu dân cư; bố đẻ của bị cáo là thương binh và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba”. Nhân thân của bị cáo là đã bị xét xử nhưng đã được xóa án tích, tính từ ngày xóa án tích đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là trên 6 tháng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng là không đảm bảo giáo dục bị cáo. Để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cần xử phạt bị cáo 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, bị cáo bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy bị cáo là người lao động tự do nhưng bị cáo xác định có thu nhập ổn định là 10.000.000 đồng/tháng nên khấu trừ thu nhập của bị cáo là 500.000 đồng/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thực hiện khấu trừ thu nhập theo hằng tháng. Trong thời gian cải tạo không giam giữ, bị cáo mất thu nhập hoặc thu nhập không ổn định thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
[6] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể phạt một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước. Xét thấy bị cáo P, P1 và H2 không có tài sản gì nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo T2 có tài sản có giá trị nên phạt bị cáo một khoản tiền.
[7] Xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G của bị cáo Bùi Quang P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo2201, bên trong có lắp chiếc sim điện thoại số thuê bao 0977.607.xxx của bị cáo Nguyễn Thị Minh P1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 5G là của bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, bên trong có lắp sim điện thoại số thuê bao 0961.023.xxx là của bị cáo Đỗ Khánh T2. Xét thấy các bị cáo đã sử dụng những chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc sim điện thoại di động đang lắp trong chiếc điện thoại của bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 và chiếc điện thoại của bị cáo Đỗ Khánh T2, do không có giá trị sử dụng nên tiêu hủy.
Bị cáo P đánh bạc với bị cáo P1 với số tiền là 88.000.000 đồng; bị cáo P đánh bạc với bị cáo H2 với số tiền là 35.174.000 đồng; bị cáo H2 đánh bạc với bị cáo T2 với số tiền là 6.600.000 đồng. Xét thấy số tiền này là các bị cáo sử dụng đánh bạc nên buộc các bị cáo phải nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo P1 và H2 chưa chuyển số tiền cho bị cáo P, bị cáo T2 chưa chuyển tiền cho bị cáo H2 nên số tiền bị cáo P1 phải nộp là 88.000.000 đồng, H2 phải nộp là
35.174.000 đồng, T2 phải nộp là 6.600.000 đồng. Bị cáo H2 và T2 đã nộp số tiền này tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ nên xác nhận đã nộp xong.
[8] Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo đã nộp tiền án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ nên xác nhận đã nộp xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Quang P và Nguyễn Thị Minh P1.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H2.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Khánh T2.
2. Tuyên bố các bị cáo Bùi Quang P, Nguyễn Thị Minh P1, Nguyễn Thị Thu H2 và Đỗ Khánh T2 phạm tội “Đánh bạc”.
2.1. Xử phạt bị cáo Bùi Quang P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Bùi Quang P cho UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Bùi Quang P có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 cho UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 04 (Bốn) ngày tạm giữ (Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 13/01/2025, quy đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ) nên thời gian còn lại phải chấp hành 17 (Mười bảy) tháng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 cho UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H2. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
2.4. Xử phạt bị cáo Đỗ Khánh T2 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 04 (Bốn) ngày tạm giữ (Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến ngày 13/01/2025, quy đổi một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ) nên thời gian còn lại phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
Giao bị cáo Đỗ Khánh T2 cho UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Đỗ Khánh T2 có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Đỗ Khánh T2 là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng)/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập được thực hiện hằng tháng. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Không áp
dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3. Hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Khánh T2. Phạt bị cáo Đỗ Khánh T2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Quang P2, Nguyễn Thị Minh P1 và Nguyễn Thị Thu H2.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G, số Imei 1: 350346451204112, số Imei 2: 350895261204118 của bị cáo Bùi Quang P do sử dụng để đánh bạc.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 88.000.000 đồng (T3 mươi tám triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo2201 màu vàng, số Imei 1: 860672068303812, số Imei 2: 860672068303804 của bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 do sử dụng để đánh bạc.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 35.174.000 đồng (Ba mươi lăm triệu một trăm bảy mươi tư nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 5G, số Imei 1: 864647052125450, số Imei 2: 864647052125443 của bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 do sử dụng để đánh bạc (Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 đã nộp xong số tiền này theo biên lai thu tiền số 0001001 ngày 26/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số Imei 1: 353751250025088, số Imei 2: 353751250351468 của bị cáo Đỗ Khánh T2 do sử dụng để đánh bạc (Xác nhận bị cáo Đỗ Khánh T2 đã nộp xong số tiền này theo biên lai thu tiền số 0000974 ngày 06/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 0977607548 hiện đang lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 2201 của bị cáo Nguyễn Thị Minh P1; 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 0961023976 hiện đang lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax của bị cáo Đỗ Khánh T2.
(Điện thoại, sim điện thoại hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Quang P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (Xác nhận bị cáo Bùi Quang P đã nộp xong án phí theo biên lai thu tiền số 0001002 ngày 06/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Minh P1 đã nộp xong án phí theo biên lai thu tiền số 0001003 ngày 06/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 đã nộp xong án phí theo biên lai thu tiền số 0000975 ngày 06/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
Buộc bị cáo Đỗ Khánh T2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (Xác nhận bị cáo Đỗ Khánh T2 đã nộp xong án phí theo biên lai thu tiền số 0000974 ngày 06/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Bùi Quang P, Nguyễn Thị Minh P, Nguyễn Thị Thu H và Đỗ Văn T phạm tội đánh bạc
