TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 10 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân
Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Hạnh Tịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 2 năm 2025, đối với bị cáo:
Lương Thanh H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 02 năm 1978 tại: Huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lương Văn C (Đã chết) và bà Lương Thị S (Đã chết); A, chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lang Thị V, sinh năm 1974; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 09/02/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 24/2004/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt
+ Người bào chữa cho bị cáo Lương Thanh H: Trợ giúp viên Võ Thị H1; Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 15/8/2024, Lương Thanh H đang ở nhà thì có người phụ nữ tên X (Khoảng 50 tuổi, trú tại ở bản N, xã C, huyện Q) gọi H đến nhà và hỏi H có lấy được ma túy hồng phiến để bán cho khách không? H nói để hỏi xem sẽ báo lại. Khoảng hai ngày sau, H đi chợ C2, huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông dân tộc Mông. Nghĩ người này biết chỗ bán ma túy nên H hỏi mua ma túy thì người này đồng ý và cho số điện thoại để liên lạc. Tối cùng ngày, H gọi điện hỏi mua 60 (Sáu mươi) gói ma túy hồng phiến, hai bên thống nhất giá 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng. H hẹn người đàn ông dân tộc Mông vào ngày 18/8/2024 xuống xã C để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, H đến nhà người phụ nữ tên X báo F (Sáu mươi) gói ma túy hồng phiến giá 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng thì người này đồng ý, đưa trước cho H 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng và đưa số điện thoại của khách mua ma túy. Người phụ nữ tên X nói sau khi giao ma túy xong cho khách thì sẽ trả đủ tiền và cho thêm Lương Thanh H một ít. H đồng ý và nhận 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng rồi đi về nhà. Khoảng 09 giờ ngày 18/8/2024, H liên lạc và gặp người đàn ông dân tộc Mông ở khu vực thủy điện xã C, huyện Q. Tại đây, H đưa cho người này 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng và xin nợ 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng. Người này đồng ý và hẹn H ngày hôm sau sẽ có ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 19/8/2024, người đàn ông dân tộc Mông gọi điện hẹn H đến địa điểm cũ để nhận ma túy. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại VISION màu xanh đen, biển số 37F1-25025 đến địa điểm đã hẹn gặp người đàn ông dân tộc Mông và nhận từ người này 01 (Một) bì màu xanh bên trong có 02 (Hai) khối ni lông chứa ma túy hồng phiến. H cất số ma túy trên vào trong cốp xe máy rồi đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khách mua ma tuý của người phụ nữ tên X lên liên lạc với H để giao dịch mua bán ma tuý. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại VISION màu xanh đen, biển số 37F1-25025 (Trong cốp xe có chứa ma tuý) đến khu vực dốc C thuộc xã C, huyện Q đón người này rồi đi đến nhà người phụ nữ tên X. Tại đây, khách mua ma túy và H mở ma tuý ra để kiểm tra. Sau đó, H chở khách đến khu vực dốc C1 để nhận tiền và giao ma tuý. Khi hai người đi được khoảng 01 (Một) km thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh N và Công an huyện Q ra tín hiệu yêu cầu dừng xe; Người nam thanh niên ngồi sau xe H nhảy xuống xe bỏ chạy lên bìa rừng còn Lương Thanh H bị lực lượng Công an bắt giữ, kiểm tra phát hiện toàn bộ số ma túy H mang đi bán cho khách ở trong cốp xe máy.
Kết luận giám định số 829/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- “60 mẫu viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu từ M1 đến M60) thu giữ của Lương Thanh H gửi đến giám định đều là ma tuý; loại Methamphetamine.
- Số viên nén hình tròn, màu hồng (60 túi) thu giữ của Lương Thanh H có tổng khối lượng là 1.231,21g (Một nghìn hai trăm ba mươi mốt phẩy hai mươi mốt gam)".
* Về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- - 1.231,21 gam ma túy (Methamphetamine), Cơ quan điều tra đã lấy 195,32 gam gửi giám định, còn lại 1.035,89 gam và vỏ bao niêm phong cũ.
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xám, đã qua sử dụng; số IMEI 1: 860406052006986; IMEI 2: 860406052006994;
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, đã qua sử dụng; số IMEI 1: 351402851934003; IMEI 2: 351402851934011.
- - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, đã qua sử dụng; số khung RLHJK0344NY002002, số máy JK03E0700819, biển số 37F1 25.025, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của anh Lương Tiến H2 (sinh năm 2003, trú tại xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) không liên quan đến hành vi phạm tội của Lương Thanh H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định xử lý trả lại cho anh Lương Tiến H2 theo quy định pháp luật.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-P1 ngày 31 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Thanh H về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 39 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lương Thanh H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy; Tich thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmai, vỏ màu xám và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng.
- Về án phí: Theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, hạn chế về nhận thức pháp luật, sống tại địa bàn phức tạp. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án tù có thời hạn.
Bị cáo nhất trí như lời bào chữa của luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các luật sư, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Vào ngày 18/8/2024 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Lương Thanh H đã mua 1.231,21 (Một nghìn hai trăm ba mươi mốt phẩy hai mươi mốt) gam ma túy (Methamphetamine) của người đàn dân tộc Mông (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nhằm mục đích bán kiếm lời. Đến 14 giờ ngày 19/8/2024, tại Km H Quốc lộ A thuộc địa phận xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An khi Lương Thanh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 37F1 25.025 mang số ma túy trên đi bán cho một người nam thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng thì bị Tổ công tác tỉnh Nghệ An và Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Hành vi của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội, nguyên nhân sâu xa làm phát sinh các tội phạm khác mà còn làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà vẫn phạm tội nhằm mục đích vụ lợi. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội vô thời hạn để thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong quá trình quyết định hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng giấy cát tông bên trong có 1.035,89 (Methamphetamine) và vỏ niêm phong cũ.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xám và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu H3 đã thu giữ, quá trình điều tra xác định của anh Lương Tiến H2 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử lý trả lại cho anh Lương Tiến H2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho Lương Thanh H và người nam thanh niên mua ma túy Lương Thanh H của theo lời khai của H thì H không biết tên tuổi, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án này.
Đối với Vi Thị X (Sinh năm 1966, trú tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) theo lời khai của Lương Thanh H, X là người giới thiệu khách mua ma tuý và đưa tiền trước cho H để mua ma tuý; Cơ quan điều tra đã tiến hành nhận dạng, lấy lời khai và đối chất nhưng Vi Thị X không thừa nhận có hoạt động phạm tội về ma tuý với Lương Thanh H. Ngoài lời khai của Lương Thanh H không có tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh nên không đủ căn cứ kết luận Vi Thị X đã tham gia mua bán ma túy cùng Lương Thanh H.
Đối với Lương Tiến H2 (Con trai của Lương Thanh H) là người cho H mượn chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 37F1 25.025; quá trình điều tra xác định Lương Tiến H2 không biết việc Lương Thanh H sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên không phạm tội.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn giảm án phí nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 39 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lương Thanh H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng giấy cát tông bên trong có 1.035,89 (Methamphetamine) và vỏ bao niêm phong cũ.
- + Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xám và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen.
Chi tiết đặc điểm có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lương Thanh H không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lương Thanh H có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lương Thanh H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
