|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HS-ST
Ngày: 20/06/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Hoàng;
- Ông Phan Thanh Tâm;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Hậu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/HSST-QĐ, ngày 09/06/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Anh T, sinh ngày 25 tháng 03 năm 1995; Tên gọi khác: Thi Heo; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Lê Thanh T1, sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị Lệ C, sinh năm 1961; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ tên: Nguyễn Thị Huỳnh H, sinh năm 1994; có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/6/2022, bị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi Đánh bạc, số tiền xử phạt là 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong. Tạm giữ: Không; Bắt tạm giam: Từ ngày 21/11/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa:
Luật sư Võ Phát T2 – Văn Phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: số E, N, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H1 – Văn Phòng L1 – Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số B, T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị hại: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Lê Anh T4, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Công H2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Chí D, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Phạm Trần Trung H3, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thái B, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị Huỳnh H, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thị T5, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Hữu T6 (T), sinh năm 2005. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyễn Văn T3, Lê Anh T4 và Nguyễn Thị Huỳnh H có mặt; Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thái B, Phạm Trần Trung H3, Nguyễn Chí D, Nguyễn Công H2 và Nguyễn Hữu T6 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Anh T và Nguyễn Văn T3 có mối quan hệ quen biết nhau ngoài xã hội. Khoảng tháng 08/2024, T3 vay của T số tiền 60.000.000 đồng, với lãi suất 05%/tháng và vay tiền của Lê Anh T4 là em ruột T số tiền 40.000.000 đồng, không tính lãi. Đến khoảng tháng 9/2024, giữa T, T3 và T4 cùng thoả thuận sẽ chuyển số nợ 40.000.000 đồng mà T3 thiếu T4 sang cho T. Như vậy, tổng số tiền mà T3 nợ T là 100.000.000 đồng, việc vay nợ giữa các bên không làm biên nhận nợ. Từ khi thỏa thuận vay tiền cho đến thời điểm xảy ra vụ án là ngày 04/11/2024, T3 không trả tiền lãi cho T.
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/11/2024, T3 ngồi uống nước phía trước quán C1, thuộc khóm T, thị trấn T, huyện T, Đồng Tháp cùng với Phạm Trần Trung H3, Nguyễn Thái B và Nguyễn Chí D. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, 04 người đang ngồi uống nước thì T điều khiển xe mô tô, loại xe Wave 125i, màu trắng đỏ, biển số 66B1-868.07 chạy ngang qua gặp T3. Lúc này, T nhớ lại khoảng tiền vay mà T3 đã thiếu nhiều ngày chưa thanh toán và cố tình tránh né, nên T quay xe lại rồi đậu xe trước quán, tháo nón bảo hiểm loại nón S màu trắng có chấm màu xám đen cầm trên tay. T đi bộ lại gần chỗ T3 ngồi hỏi chuyện, vừa nói xong thì T cầm nón bảo hiểm bằng tay phải đánh 02 cái vào người T3, trong đó, có 01 cái trúng vào vùng đầu của T3 thì được anh D, B và H3 can ngăn nên T không đánh nữa.
Sau đó, T yêu cầu T3 phải viết biên nhận vay số tiền 190.000.000 đồng và hâm doạ “mày không viết thì không đi khỏi chổ này”. Nghe T hâm doạ nên T3 lo sợ và đồng ý viết biên nhận nợ theo yêu cầu của T, mặc dù, số tiền nợ chỉ có 100.000.000 đồng. Lúc này, T liên hệ qua điện thoại nhờ Nguyễn Hữu T6 kiếm tờ giấy trắng và 01 cây viết đem lại quán cà phê 66 cho T. T6 không hỏi và cũng không biết T lấy giấy viết mục đích để làm gì, nhưng vẫn đi mua mới 01 quyển tập học sinh và 01 cây viết mực màu xanh đem đến đưa cho T, rồi đi về nhà.
Sau khi nhận quyển tập và cây viết, T đưa lại cho T3 và yêu cầu phải viết biên nhận vay tiền. T đọc cho T3 viết biên nhận tại trang giữa quyển tập, nội dung như sau “Tôi tên Nguyễn Văn T3 có mượn tiền của ông Lê Anh T số tiền 190 triệu” phía dưới ghi ngày 04/11/2024, rồi ký tên và ghi họ tên Nguyễn Văn T3. Sau khi T3 viết xong, T lấy quyển tập có giấy biên nhận mượn tiền đem về nhà rồi kể lại sự việc trên cho vợ là Nguyễn Thị Huỳnh H nghe và cho xem biên nhận số tiền 190.000.000 đồng.
Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, T3 đến Công an thị trấn T trình báo vụ việc. Công an tiến hành mời T làm việc, lúc này T sợ nên xé bỏ biên nhận mượn tiền nêu trên.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 219/KLTTCT-TTPYDT ngày 14/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Vết biến đổi sắc tố da vùng chẩm, tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của anh Nguyễn Văn T3 tại thời điểm giám định là 01%. Tổn thương do vật tày gây ra.
* Vật chứng, tài liệu thu giữ và xử lý: Cơ quan điều tra đã thu giữ của T:
- - 01 xe mô tô biển số 66B1-868.07, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave 125i, màu trắng đỏ. Chiếc xe bị thu giữ là của Nguyễn Công H2 đứng tên đăng ký, do H2 cầm xe mô tô cho T số tiền 52.000.000 đồng, chưa thanh toán. H2 yêu cầu nhận lại xe mô tô nhưng T không đồng ý và yêu cầu giao xe mô tô cho T để giải quyết dân sự riêng.
- - 01 nón bảo hiểm, nhãn hiệu nón sơn, màu trắng có nhiều chấm đen, xám (đã qua sử dụng).
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thưng không yêu cầu T bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.
Trong quá trình điều tra, Lê Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSHTB ngày 21/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Cưỡng đoạt tài sản; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Anh T với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù;
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 170 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung Lê Anh T số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Thưng xong. Tại phiên tòa, bị hại T3 không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm, nhãn hiệu nón sơn, màu trắng có nhiều chấm đen, xám (đã qua sử dụng).
- - Hoàn trả cho bị cáo Lê Anh T 01 xe mô tô biển số 66B1-868.07, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave 125i, màu trắng đỏ.
Đối với Nguyễn Hữu T6 đem 01 quyển tập học sinh và 01 cây viết mực màu xanh đem đến đưa cho T rồi bỏ đi về nhà, T6 không hỏi và cũng không biết T lấy giấy viết mục đích để làm gì. Do đó, T6 không đồng phạm với T.
Đối với hành vi T dùng nón bảo hiểm đánh bị hại gây thương tích 01%, bị hại Thưng đã tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố. Việc rút đơn yêu cầu của bị hại Thưng là hoàn toàn tự nguyện và đúng quy định pháp luật, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can T về tội Cố ý gây thương tích.
Đối với bà Nguyễn Thị Huỳnh H biết việc T gây thương tích và buộc bị hại T3 phải ghi biên nhận mượn số tiền 190.000.000 đồng. Khi biết sự việc, H có khuyên T xé bỏ giấy biên nhận tiền nên bà H không đồng phạm trong vụ án này.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu tranh luận: Việc chuyển số nợ 40.000.000 đồng từ Lê Anh T4 sang bị cáo T là hợp lệ do đã có sự thoả thuận, thống nhất của bị cáo T, Lê Anh T4 và bị hại T3. Do đó, xác định số tiền bị hại Thưng nợ bị cáo T là 100.000.000 đồng; bị cáo buộc bị hại viết biên nhận số tiền 190.000.000 đồng là nhiều hơn 90.000.000 đồng. Cáo trạng xác định bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 90.000.000 đồng là phù hợp nên không có ý kiến về số tiền xem xét xử lý đối với bị cáo. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị hại T3 hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả, cùng với việc nhận thức pháp luật chưa cao nên bị cáo T đã có những hành vi nêu trên. Hành vi của bị cáo chỉ là bộc phát, nóng tính nhất thời. Quá trình điều tra, bị cáo T cũng đã nhận biết hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội. Theo luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo T có tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện bồi thường thiệt hại tinh thần cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tình tiết bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Ngoài ra, bị cáo T thấy hành vi sai trái của mình nên đã chủ động xé bỏ biên nhận, chưa tác động đến bị hại để lấy số tiền. Tại phiên tòa, bị hại T3 cũng thừa nhận thiệt hại không lớn nên đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội chưa nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời, bị hại cũng xác định bị cáo T đang nuôi 02 con còn nhỏ mà bị cáo là lao động chính trong gia đình.
Từ những các cơ sở đã nêu, xác định bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định.
* Tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của các bị cáo rất ăn năn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình để nuôi con nhỏ và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 42/CT-VKSHTB ngày 21/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình là đúng.
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/11/2024 tại quán C1 thuộc khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo T có hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực uy hiếp tinh thần của bị hại T3, ép buộc bị hại phải viết biên nhận nợ số tiền 190.000.000 đồng, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền là 90.000.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi của bị cáo Lê Anh T đã cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự.
“Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản:
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
...d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; ...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[4] Xét hành vi của bị cáo: Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết dùng hành vi vũ lực, hoặc đe dọa dùng vụ lực để uy hiếp người khác giao tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là cần thiết nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục được thiệt hại cho bị hại; bị cáo thấy hành vi của minh sai trái nên chủ động xé bỏ biên nhận và chưa tác không bị hại để lấy tiền nên bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 170 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung. Do đó, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo Lê Anh T số tiền 30.000.000 đồng
[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:
- - Đối với 01 nón bảo hiểm là công cụ thực hiện hành vi và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe mô tô biển số 66B1-868.07 không liên quan đến vụ án nên cần xem xét trả lại cho bị cáo T.
[11] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Đối với hành vi của Nguyễn Hữu T6 và Nguyễn Thị Huỳnh H, cáo trạng và luận tội không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xử lý.
[12] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 42/CT-VKSHTB ngày 21/05/2025 và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận. Về phần hình phạt, xét các tình tiết giảm nhẹ, cũng như thái độ của bị cáo tại phiên tòa, áp dụng một mức hình phạt nhẹ hơn cũng đủ tính răng đe cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ pháp luật và hình phạt:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 và khoản 5 Điều 170; điểm b, h và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Lê Anh T 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm, nhãn hiệu nón S, màu trắng có nhiều chấm đen, xám (đã qua sử dụng).
- - Trả lại cho bị cáo Lê Anh T: 01 xe mô tô biển số 66B1-868.07, số khung: MLHJA2108M5868314, số máy: JA21E-3668314, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave 125i, màu trắng đỏ (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình ngày 24/03/2025).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
