|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 08/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Cương.
- Bà Ngô Thị Luân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K' Nhuận – Là Thư ký Tòa án của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn P – Tên gọi khác: không; sinh năm: 1984; tại: Cao Bằng; nơi ĐKHKTT: xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện nay: thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nông Văn C (đã chết) và bà Đàm Thị L. Có vợ Hoàng Thị H và có 02 con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 18.7.2025, bị Công an xã Đ 3, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000đ, chấp hành xong ngày 15.10.2025; Nhân thân: Ngày 14.7.2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 19.5.2023; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nông Văn P là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 09 giờ ngày 24/8/2025, do cần ma túy để sử dụng nên P đi từ nhà tại thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng đến khu vực chợ Đ, thuộc thôn P, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, gặp một thanh niên tên B (không xác định nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy thì được B đồng ý bán. P đưa 500.000 đồng và nhận từ B 01 gói giấy bạc, bên trong chứa ma túy dạng bột. Sau khi mua được ma túy, P về lại nhà sử dụng hết. Ngày 25/8/2025, Công an xã Đ phát hiện P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở Công an để test nhanh ma túy. Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 25/8/2025, Nông Văn P dương tính với ma túy, loại Heroine. Cơ quan điều tra đã thu mẫu nước tiểu của Nông Văn P gửi giám định.
Theo Kết luận giám định số 443/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K - Công an tỉnh L: Tìm thấy các sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine (6-MAM, M và C1) trong mẫu nước tiểu của Nông Văn P gửi giám định.
Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra xác định: Ngày 14/7/2022, Nông Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 19/5/2023. Ngày 09/6/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời gian quản lý từ 09/6/2023 đến ngày 09/6/2025. Ngày 17/7/2025, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ 3, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn từ ngày 17/7/2025 đến ngày 17/7/2026. Như vậy, đang trong thời gian 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, Nông Văn P tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng để xét xử bị can Nông Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nông Văn P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 xử phạt bị cáo Nông Văn P từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nông Văn P đang trong thời gian 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nông Văn P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 như Cáo trạng đã truy tố.
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Bị cáo là người nghiệm ma túy, đã đi cai nghiện nhưng vẫn tái nghiện, không có ý thức tự từ bỏ ma túy nên cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát để trừng trị bị cáo, để bị cáo từ bỏ ma túy, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung.
[7] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình điều tra tại ngoại, bị cáo luân tuân thủ theo sự triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng nên không cần thiết phải bắt bị cáo ngay tại phiên tòa mà khi nào án có hiệu lực pháp luật mới bắt bị cáo đi chấp hành án là phù hợp.
[8] Đối với đối tượng “Bảo” bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Tuyên bố bị cáo Nông Văn P phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Nông Văn P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/12/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Kiên |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng trái phép chất ma túy
