Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HÓA

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HS-ST

Ngày: 04/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Trần Thị Bích Thủy;

- Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST- HS ngày 22 tháng 2 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 3 năm 2025; đối với bị cáo:

Trần Văn T

(tên gọi khác: Không có) sinh ngày 02/05/1990, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Nơi thường trú: thôn N, xã T,thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế(nay là Tổ dân phố N, phường T, quận T, thành phố H;Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần B, sinh năm 1956; Con bà: Huỳnh Thị T1, sinh năm 1959; Anh chị em ruột có 04 người, bị can là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Võ Thị C, sinh năm 1992; Con: có hai người con, lớn nhất sinh năm 2009; nhỏ nhất sinh năm 2015.

Về nhân thân: Nhỏ sống với gia đình tại thôn N, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H). Học đến lớp 11/12 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc (Quyết định số: 806/QĐ-XPHC ngày 22/02/2024 của Công an xã T, thành phố H).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2024 cho đến ngày 24/01/2025 được thay thế bằng biện pháp "Bảo lĩnh" cho đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Hồ Văn P, sinh năm: 1982; Địa chỉ: thôn A, T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế ( nay là TDP A, phường T, quận T, Tp .); có đơn xin vắng mặt.

- Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm: 1975; Địa chỉ: thôn A, T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế ( nay là TDP A, phường T, quận T, Tp .); có mặt.

- Ông Trần Văn T3, sinh năm: 1986; Địa chỉ: thôn B, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP B, phường T, quận T, Tp .); có mặt.

- Ông Huỳnh Ngọc T4, sinh năm: 1997; Địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP N,phường T, quận T, Tp .); có mặt.

- Ông Trần Xuân H, sinh năm: 1988; Địa chỉ: thôn B, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP B, phường T, quận T, Tp .); có mặt.

- Ông Hoàng M, sinh năm: 1994; Địa chỉ: thôn A, T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế ( nay là TDP A, phường T, quận T, Tp .); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/11/2024, Trần Văn T đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43 đi tìm quán mua thuốc lá, khi đi ngang qua nhà Hồ Văn P (sinh năm:1982 tại thôn A, T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường T thuộc quận T, thành phố H) thì thấy có Nguyễn Đức T2 (sinh năm:1975); Trần Văn T3 (sinh năm: 1986); Huỳnh Ngọc T4 (sinh năm:1997); Trần Xuân H (sinh năm:1988) và Hoàng M (sinh năm:1994) cùng trú tại xã T, thành phố H, tỉnh thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H) đang ngồi ăn cơm, T đi vào cùng ăn cơm với mọi người. Cùng lúc này, có thêm Phạm Phước D (sinh năm:1993); Nguyễn Đức Thành Đ (sinh năm:1998); Trương Ngọc T5 (sinh năm:1990) cùng trú tại xã T, thành phố H, tỉnh thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H) ngồi uống nước trà tại nhà Hồ Văn P. Sau khi ăn cơm xong, T, T2, T3, T4, H, M rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh 9 lá” thắng thua bằng tiền và cùng thống nhất quy ước sau khi chia bài mỗi người sẽ đặt ra 10.000 đồng để cược, ai có bài lớn nhất sẽ thắng bạc, người thắng hai ván liên tiếp sẽ bỏ tiền xâu 10.000 đồng để mua mồi nhậu. Cả nhóm thống nhất cách thức đánh bạc cụ thể như sau: Sử dụng bài Tú lơ khơ 52 lá bỏ thêm 01 lá K cơ và 01 lá Q cơ từ bộ bài khác thành 54 lá (Hồ Văn P là người đi mua 02 bộ bài) chia đều 6 tay bài, mỗi tay 09 lá bài, sau đó mỗi người sắp xếp thành 03 chi, trong mỗi chi có 03 lá bài. Các tay bài sẽ so sánh từng chi với người làm “Cái” để xác định thắng thua, mỗi tay bài thay phiên nhau làm “Cái” 03 (ba) ván, với các ván bài đặt cược từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Nếu người làm “Cái” thắng thì người làm “Cái” nhận được số tiền tương ứng đã đặt cược của từng người chơi, trường hợp người làm cái thua thì sẽ mất số tiền tương ứng của người chơi đặt cược. Mỗi lần người nào làm “Cái” thắng hai ván liên tiếp thì bỏ tiền xâu 10.000 đồng, số tiền xâu sử dụng để mua bia và mồi nhậu.

Sau khi thỏa thuận xong, cả nhóm cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh 9 lá”, được thua bằng tiền như đã nêu trên. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, trong khi các đối tượng trên đang đánh bạc trái phép thì bị Công an thành phố H tiến hành kiểm tra, phát hiện các đối tượng trên đang đánh bạc như đã nêu trên. Ngay lúc này, Trần Văn T,Nguyễn Đức T2, Trần Văn T3, Trần Xuân H,Hoàng Mbỏ chạy khỏi song bạc, chỉ còn lại Huỳnh Ngọc T4, Hồ Văn P và những người ngồi xem các đối tượng đánh bạc nói trên không tham gia đánh bạc gồm anh Phạm Phước D, Nguyễn Đức Thành Đ, Trương Ngọc T5 Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành lập biên bản, xác minh, điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra đã chứng minh, xác định tổng số tiền mà T, T2, T3, T4, H, M dùng đánh bạc là 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó, thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc số tiền 320.000 đồng (thu trong hộp đựng tiền xâu); thu giữ từ H số tiền 100.000 đồng; thu giữ từ Trần Xuân H số tiền 310.000 đồng; thu từ Trần Văn T số tiền 20.000 đồng. Hồ Văn P là người mua bài T5 lơ khơ để các đối thượng đánh bạc.

* Vật chứng tạm giữ:

- Tiền Ngân hàng N phát hành: 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó, thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc số tiền 320.000 đồng (thu trong hộp đựng tiền xâu); thu giữ từ H số tiền 100.000 đồng; thu giữ từ Trần Xuân H số tiền 310.000 đồng; thu từ Trần Văn T số tiền 20.000 đồng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125, BKS 75G1-368.16, màu trắng, số khung: RLHJF305KY04734, số máy: JF73E0179563, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, BKS 75G1-402.60, màu trắng số khung: 9504LY043813, số máy: JF95E0054802, đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhân hiệu Honda AirBlade, BKS 75G1-208.62, màu trắng xám, số khung: 4613EZ463487; số máy JF46E7091725 đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS 59P2-246.86, màu đen bạc, số khung: RLHHC204AY074330; số máy: HC12E2574375 đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 75V1-4274, màu vàng nâu, số khung: RLCG31C2AY006362 số máy: 31C2006361 đã qua sử dụng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640CY979546 số máy: 5C64979426 đã qua sử dụng.

* Về xử lý vật chứng:

Ngày 14/01/2025 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T đã ra Quyết định 62/QĐ-CQĐT-HS bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu như sau:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125, BKS 75G1-368.16, màu trắng, số khung: RLHJF305KY04734, số máy: JF73E0179563, đã qua sử dụng. Trả lại cho Phạm Phước D (sinh năm:1993, thường trú tại xã T, thành phố H (nay là phường T, quận T, thành phố H),

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, BKS 75G1-402.60, màu trắng, số khung: 9504LY043813, số máy: JF95E0054802, đã qua sử dụng. Trả lại tài sản trên cho Mai Quốc T6 (sinh năm 1991, thường trú tại xã T, thành phố H (nay là phường T, quận T, thành phố H).

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS 75G1-208.62, màu trắng xám, số khung: 4613EZ463487; số máy JF46E7091725; đã qua sử dụng. Trả lại tài sản trên cho Trần Thị P1 (sinh năm 1992, thường trú tại xã T, thành phố H (nay là phường T, quận T, thành phố H).

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS 59P2-246.86, màu đen bạc, số khung: RLHHC204AY074330; số máy: HC12E2574375 đã qua sử dụng. Trả lại tài sản trên cho Hoàng M (sinh năm 1994, thường trú tại xã T, thành phố H (nay là phường T, quận T, thành phố H).

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 75V1-4274, màu vàng nâu, số khung: RLCG31C2AY006362 số máy: 31C2006361 đã qua sử dụng. Trả lại tài sản trên cho Nguyễn Đức T2 (sinh năm 1986, thường trú tại xã T, thành phố H (nay là phường T, quận T, thành phố H).

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640CY979546 số máy: 5C64979426 đã qua sử dụng thuộc sở hữu của Trần Văn T, hiện đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 750.000 đồng mà T, T2, T3, T4, H, M sử dụng để đánh bạc; 54 lá bài tú lơ khơ, 01 cái chăn màu hồng và 01 lon đựng tiền xâu các con bạc dùng vào việc đánh bạc đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSTH ngày 22 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội” Đánh Bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, để nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T, xử phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 30.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 54 lá bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01 cái chăn màu hồng và 01 lon đựng tiền xâu các con bạc dùng vào việc đánh bạc.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 750.000 đồng là vật chứng của vụ án.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640CY979546 số máy: 5C64979426 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Trần Văn T.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án. Đối chiếu với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở và căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Do Trần Văn T đã bị Công an xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Công an phường T, quận T, thành phố H) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 1.500.000 đồng (theo Quyết định số: 806/QĐ-XPHC ngày 22/02/2024) nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với tổng số tiền dùng đánh bạc (tang số) 750.000 đồng nên hành vi của Trần Văn T phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Trần Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, nhưng không chịu tu chí làm ăn, mà lười lao động, trước đó bản thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng vì quá xem thường pháp luật, bị cáo lại tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi do bị cáo đã gây ra, nhằm mục đích để răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Xét các căn cứ quyết định hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 54 lá bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01 cái chăn màu hồng và 01 lon đựng tiền xâu các con bạc dùng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 750.000 đồng là vật chứng của vụ án có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640CY979546 số máy: 5C64979426 bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo Trần Văn T.

[7] Về các tình tiết có liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Đức T2, Trần Văn T3, Huỳnh Ngọc T4, Trần Xuân H, Hoàng M có hành vi đánh bạc trái phép với tang số dưới 5.000.000 đồng. Các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của T2, T3, T4, H, M không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, “ Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc”. Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Đối với Hồ Văn P là chủ nhà khi T, T2, T3, T4, H, M đến chơi và tham gia đánh bạc thì ông P biết và là người cung cấp bài T5 lơ khơ cho các đối tượng đánh bạc và sử dụng chỗ ở của mình để chứa chấp đánh bạc. Tuy nhiên, kết quả điều tra xác định Hồ Văn P chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của Hồ Văn P không đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” hoặc tội “Gá bạc”. Vì vậy, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hồ Văn P theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Phước D, Nguyễn Đức Thành Đ, Trương Ngọc T5 không tham gia đánh bạc hoặc có hành vi giúp sức cho các đối tượng đánh bạc nên không xử lý.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) là hình phạt chính.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy: 54 lá bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, 01 cái chăn màu hồng và 01 lon đựng tiền xâu.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), gồm: Thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc số tiền 320.000 đồng(thu trong hộp đựng tiền xâu); thu giữ từ H số tiền 100.000 đồng; thư giữ từ Trần Xuân H số tiền 310.000 đồng, thu giữ từ Trần Văn T số tiền 20.000 đồng).

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640CY979546 số máy: 5C64979426.

Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/3/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố H( nay là cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H) và Chi cục Thi hành án dân sự quận T thành phố H.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phía Toà án buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan(ông P) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

- TAND thành phố Huế;

- VKSND thành phố Huế

- Sở tư pháp thành phố Huế;

- Phòng PV 06 CA thành phố Huế;

- VKSND quận Thuận Hóa, thành phố Huế;

- Cơ quan CSĐT công an thành phố Huế;

- Chi cục THADS quận Thuận Hóa, thành phố Huế;

- Bị cáo;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu dán án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về đánh bạc

  • Số bản án: 48/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nngày 09/11/2024, Trần Văn T đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 75G1-102.43 đi tìm quán mua thuốc lá, khi đi ngang qua nhà Hồ Văn P thì thấy có Nguyễn Đức T2; Trần Văn T3; Huỳnh Ngọc T4; Trần Xuân H và Hoàng M cùng trú tại xã T, thành phố H, tỉnh thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H) đang ngồi ăn cơm, T đi vào cùng ăn cơm với mọi người. Cùng lúc này, có thêm Phạm Phước D; Nguyễn Đức Thành Đ; Trương Ngọc T5 cùng trú tại xã T, thành phố H, tỉnh thừa Thiên Huế (nay là phường T, quận T, thành phố H) ngồi uống nước trà tại nhà Hồ Văn P. Sau khi ăn cơm xong, T, T2, T3, T4, H, M rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh 9 lá” thắng thua bằng tiền và cùng thống nhất quy ước sau khi chia bài mỗi người sẽ đặt ra 10.000 đồng để cược, ai có bài lớn nhất sẽ thắng bạc, người thắng hai ván liên tiếp sẽ bỏ tiền xâu 10.000 đồng để mua mồi nhậu. Cả nhóm thống nhất cách thức đánh bạc cụ thể như sau: Sử dụng bài Tú lơ khơ 52 lá bỏ thêm 01 lá K cơ và 01 lá Q cơ từ bộ bài khác thành 54 lá (Hồ Văn P là người đi mua 02 bộ bài) chia đều 6 tay bài, mỗi tay 09 lá bài, sau đó mỗi người sắp xếp thành 03 chi, trong mỗi chi có 03 lá bài. Các tay bài sẽ so sánh từng chi với người làm “Cái” để xác định thắng thua, mỗi tay bài thay phiên nhau làm “Cái” 03 (ba) ván, với các ván bài đặt cược từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Nếu người làm “Cái” thắng thì người làm “Cái” nhận được số tiền tương ứng đã đặt cược của từng người chơi, trường hợp người làm cái thua thì sẽ mất số tiền tương ứng của người chơi đặt cược. Mỗi lần người nào làm “Cái” thắng hai ván liên tiếp thì bỏ tiền xâu 10.000 đồng, số tiền xâu sử dụng để mua bia và mồi nhậu. Sau khi thỏa thuận xong, cả nhóm cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh 9 lá”, được thua bằng tiền như đã nêu trên. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, trong khi các đối tượng trên đang đánh bạc trái phép thì bị Công an thành phố H tiến hành kiểm tra, phát hiện các đối tượng trên đang đánh bạc như đã nêu trên. Ngay lúc này, Trần Văn T, Nguyễn Đức T2, Trần Văn T3, Trần Xuân H, Hoàng M bỏ chạy khỏi song bạc, chỉ còn lại Huỳnh Ngọc T4, Hồ Văn P và những người ngồi xem các đối tượng đánh bạc nói trên không tham gia đánh bạc gồm anh Phạm Phước D, Nguyễn Đức Thành Đ, Trương Ngọc T5 Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành lập biên bản, xác minh, điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger