Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - THANH HOÁ


Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 12 - 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Tùng, Ông Lê Xuân Tơn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; sinh năm: 1992; CCCD số: [...]; Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị đơn: Anh Lê Văn Q; sinh năm: 1990; CCCD số: [...]; Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Australia.

Tại phiên toà vắng mặt chị H, anh Q. Chị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Q vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh Lê Văn Q kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 28/9/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã T, tỉnh Thanh Hoá). Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến ngày 09/9/2023 anh Q đi xuất khẩu lao động tại Australia thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và không còn nói chuyện với nhau nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện nay, anh Q cố tình giấu địa chỉ ở Australia với chị nhưng chị được biết anh Q vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Lê Thị C, có địa chỉ tại thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hoá. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Minh Q1, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Lê Minh P, sinh ngày 13/11/2020. Hiện các cháu đang ở với chị H. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, chị đang buôn bán, thu nhập bình quân hằng tháng khoảng 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), chị đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại các biên bản xác minh ngày 02/10/2025 và ngày 24/11/2025, bà Lê Thị C (mẹ đẻ của anh Q) trình bày: Chị H và anh Q kết hôn tự nguyện vào năm 2016, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã T, tỉnh Thanh Hoá). Năm 2023, anh Q đi xuất khẩu lao động tại Australia cho đến nay. Từ khi anh Q đi xuất khẩu lao động thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đến nay không thể cứu vãn được.

Về con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là cháu Lê Minh Q1, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Lê Minh P, sinh ngày 13/11/2020. Hiện cháu đang ở với chị H.

Về tài sản: Bà không biết chị H và anh Q có tài sản chung hay không.

Từ khi đi Australia đến nay, anh Q vẫn liên lạc về với gia đình qua mạng xã hội. Tuy nhiên về địa chỉ cụ thể của anh Q ở Australia, anh không cung cấp, gia đình không được biết nên không thể cung cấp cho Tòa án, anh Q có nhờ bà C nhận các văn bản của Tòa án và thông báo lại cho anh. Các văn bản tố tụng, Toà án tống đạt cho anh Q, bà C đã nhận đầy đủ và đều thông báo lại cho anh Q biết. Tuy nhiên, do điều kiện ở xa, anh không thể tham gia giải quyết được. Anh Q thống nhất với yêu cầu của chị H và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh Q không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Văn Q. Giao cháu Lê Minh Q1, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Lê Minh P, sinh ngày 13/11/2020 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Lê Văn Q, Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hoá, chỗ ở hiện nay tại Australia nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 469 BLTTDS.

Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Q ở Việt Nam, không cung cấp được địa chỉ của anh Q tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Lê Thị C (mẹ đẻ của anh Q) trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Q ở Australia. Tuy anh Q thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Bà Lê Thị C vẫn thường xuyên liên lạc với anh Q nên đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh Q được biết. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh Q không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Q theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Chị H đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 BLTTDS.

Chị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Văn Q lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh Q vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị H, anh Q.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Lê Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và không còn nói chuyện với nhau nữa là do sống xa nhau trong thời gian dài, vợ chồng đã sống ly thân. Chị H không có địa chỉ của anh Q tại Australia nên không cung cấp địa chỉ của anh Q cho Tòa án được, thông qua gia đình thì bà C (mẹ đẻ của anh Q) trình bày anh Q đã biết chị H có đơn xin ly hôn và anh Q thống nhất với yêu cầu của chị H. Điều đó chứng tỏ chị H, anh Q đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh Q.

[3] Về con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung. Xét thấy, hiện tại các cháu đang ở với chị H. Cháu Q1 có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Ngoài ra, hiện nay anh Q đang lao động tại Australia nên không thể trực tiếp nuôi con được. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho hai cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu Q1. Chấp nhận yêu cầu của chị H: giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị H, đây là sự tự nguyện của chị H, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273; 469; 479 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Lê Văn Q.
  2. Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Lê Văn Q có 02 con chung là cháu Lê Minh Q1, sinh ngày 29/11/2018 và cháu Lê Minh P, sinh ngày 13/11/2020. Giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, theo biên lai số 0004010 ngày 02/10/2025. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Anh Q có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:
  • - Các đương sự;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - UBND xã Thanh Quân;
  • - THADS cấp tỉnh;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Lê Văn Thịnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị H xin ly hôn anh Lê Văn Q, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger