Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29 - 5 - 2025

Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bình

2. Ông Nguyễn Đức Binh

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 02 năm 2025; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Đường M, tổ C, khu phố H, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  2. Bị đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Đường M, tổ C, khu phố H, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn chị Huỳnh Thị T trình bày:

Chị Huỳnh Thị T, anh Lê Văn S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2006, tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị T, anh S chung sống hạnh phúc được khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh S hay rượu chè, ghen tuông, nghi ngờ, chưởi bới, đánh đập chị T nhiều lần. Mặc dù cả hai bên gia đình và bản thân chị T đã nhiều lần khuyên bảo, động viên để anh S thay đổi, nhưng không có kết quả. Do không chịu được cảnh chồng đánh đập nên vào năm 2007 chị T đã về ở với bố mẹ ruột, sau một thời gian anh S có tới động viên thì hai vợ chồng quay lại với nhau. Đến năm 2009 chị T, anh S chuyển về thị trấn V sinh sống nhưng anh S vẫn không thay đổi được tính nết, vẫn ham chơi, cờ bạc, đánh đập chị T vô cớ. Vì muốn giữ gia đình hạnh phúc nên chị T đã nhiều lần bỏ qua, chị T đã nhiều lần làm đơn khởi kiện ly hôn nhưng vì thương con nên đã rút đơn. Mặc dù hiện tại chị T và anh S vẫn còn chung sống cùng nhau nhưng chị T không còn tình cảm với anh S nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn; về con chung, tài sản chung, nợ chung chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo hồ sơ vụ, cũng như tại phiên toà bị đơn anh Lê Văn S trình bày:

Anh Lê Văn S, chị Huỳnh Thị T kết hôn vào năm 2006, tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn anh S, chị T chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau này cuộc sống vợ chồng thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, xích mích, gây gỗ nhau. Bản thân anh S không có thường xuyên cờ bạc, hay ăn nhậu, tuy nhiên nhiều lúc chị T hỗn hào thì anh S chưởi bới, đánh đập một vài lần. Thời gian gần đây chị T có quan hệ bất chính với người khác. Sau khi phát hiện anh S đã bỏ qua và nhiều lần khuyên bảo, động viên chị T thay đổi, để vợ chồng chung sống hạnh phúc, chăm lo cho gia đình nhưng chị T vẫn không thay đổi. Mặc dù vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn nhưng anh S vẫn còn tình cảm với chị T và mong muốn Tòa án hòa giải đoàn tụ, nên anh S không đồng ý ly hôn. Về con chung, tài sản chung, nợ chung anh S không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn anh Lê Văn S hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn chị Huỳnh Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lê Văn S. Nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Vụ án Toàn án không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, đồng thời đối tượng tranh chấp là ly hôn, nên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[4] Chị Huỳnh Thị T, anh Lê Văn S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 05/06/2006, quyển số 01, số vào số 94/06, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[5] Sau khi kết hôn chị T, anh S chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra gây gỗ, cải vả nhau. Mặc dù chị T, anh S đã tự động viên, an ủi nhau thay đổi, để chung sống hạnh phúc, nhưng không có kết quả. Chị T xác định hiện nay không còn tình cảm với anh S nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình làm việc anh S cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng thời gian qua có nảy sinh mâu thuẫn. Hiện nay anh S, chị T vẫn còn chung sống với nhau nhưng không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Mặc dù anh S thừa nhận vẫn còn tình cảm với chị T và mong muốn vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau, nhưng chị T cương quyết ly hôn. Điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị T được ly hôn với anh S là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Chị T, anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

[7] Chị T phải chịu án phí ly hôn.

[8] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Lê Văn S.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 05/06/2006, số vào số 94/06, quyển số 01 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Huỳnh Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005201, ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - UBND thị trấn Đức Tài;
  • - C.C Thi hành án DS.h. Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Tâm-Lê Văn Sang:Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger