Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 3 - 2025

“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh

Ông Bùi Văn Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 205/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 221/TB-TA ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huyền T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Ngọc T1, sinh năm 1982; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Angola (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Phạm Thị Huyền T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền T và anh Lê Ngọc T1 đăng ký kết hôn ngày 08/4/2016 tại Ủy ban nhân dân phường S (nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2017, anh T1 đi lao động tại Angola đến nay chưa về nước. Sau khi đi lao động ở nước ngoài, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T1 đi lao động nước ngoài, không có trách nhiệm với gia đình và vợ con dẫn đến bất đồng quan điểm sống, mỗi người một nơi nên thiếu tin tưởng, quan tâm lẫn nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện tại hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Lê Nhật A, sinh ngày 09/12/2016, hiện đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Nhật A. Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Vợ chồng không có con nuôi hay con riêng nên không yêu cầu T2 án giải quyết

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 tại Angola và đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh T1 qua gia đình anh.

Tòa án đã tiến hành xác minh, tại biên bản ghi nhận sự việc thông qua việc gọi điện (ghi âm, ghi hình) qua tài khoản mạng xã hội với anh Lê Ngọc T1 do người thân cung cấp, có sự chứng kiến của chị Lê Thanh T3 (em gái của anh T1) và đơn trình bày ý kiến của anh Lê Ngọc T1 (có dấu xác nhận của Đ tại Angola), nội dung anh T1 trình bày:

Về thời điểm, điều kiện kết hôn, quan hệ hôn nhân như chị T khai là đúng. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, tuy không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhiều nên tình cảm có phai nhạt. Tuy nhiên, khi có thời gian về Việt Nam bên vợ con, anh luôn hâm nóng lại tình cảm vợ chồng sau bao ngày xa cách, động viên và an ủi vợ. Anh T1 xác định vợ chồng không xảy ra mẫu thuẫn, anh vẫn thường xuyên gửi tiền về để chu cấp chăm sóc gia đình. Do tình cảm vợ chồng vẫn còn, nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh T1 không đồng ý. Anh T4 đề nghị Tòa án xem xét cho anh thời gian để hòa giải, hàn gắn với chị T. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Lê Nhật A, sinh ngày 09/12/2016, hiện đang sống với chị T. Trường hợp giải quyết ly hôn, anh T1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhật A, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Lê Ngọc T1 cho biết hiện nay anh đang lao động tại Angola, anh không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh tại Angola và do tính chất công việc đi lại khó khăn nên anh không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, văn bản cho chị Lê Thanh T3, sinh năm 1985 (em gái anh T1), nơi cư trú : Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Huyền T

Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Huyền T được ly hôn anh Lê Ngọc T1

Về con chung: Giao con chung Lê Nhật A, sinh ngày 09/12/2016 cho chị Phạm Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Lê Ngọc T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Lê Ngọc T1 phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Ngọc T1 đang sống và làm việc tại Angola, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên, Tòa án xác minh thông qua gia đình xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh T1 ở Việt Nam là tổ dân phố B, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Theo công văn số 1171/QLXNC- Đ1 ngày 19/11/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì anh Lê Ngọc T1 đã xuất cảnh lần cuối ngày 07/3/2023, không có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy ngày 29/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tòa án đã tiến hành xác minh, ghi nhận ý kiến và yêu cầu anh Lê Ngọc T1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T1 tại nước ngoài, tuy nhiên anh T1 không cung cấp được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết chị T có mặt nhưng vì lý do công việc đi làm ăn xa nên không thể tham gia phiên tòa được và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị T và anh T1 theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền T và anh Lê Ngọc T1 đăng ký kết hôn ngày 08/4/2016 tại Ủy ban nhân dân phường S (nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Việc kết hôn giữa chị T và anh T1 thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì khoảng năm 2017 anh T1 đi lao động tại Angola. Theo chị T trình bày nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh T1 đi nước ngoài, không có trách nhiệm với gia đình và vợ con, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc. Hiện nay, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1. Anh T1 cho rằng nội dung chị T trình bày về mâu thuẫn vợ chồng là không đúng, anh không đồng ý ly hôn và sẽ thu xếp về nước để tiến hành hòa giải giữa vợ chồng.

Tuy nhiên, từ thời điểm bị đơn anh Lê Ngọc T1 có đơn trình bày ý kiến đến nay đã 03 tháng 17 ngày, Tòa án đã 03 lần hoãn phiên tòa nhưng anh T1 vẫn chưa về nước, không có ý kiến bổ sung và không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị Huyền T và anh Lê Ngọc T1 không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Lê Nhật A, sinh ngày 09/12/2016, hiện đang sống với chi T. Cả chị T và anh T1 đều có đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Xét nguyện vọng của cháu Lê Nhật A muốn được sống với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn.

Mặt khác, hiện nay anh T1 đang sinh sống và lao động ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, hiện nay cháu Nhật A đang sống cùng với chị T, để đảm bảo sự ổn định, quyền lợi về mọi mặt, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên thì giao cháu Lê Nhật A cho chị T được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Chị T yêu cầu anh Lê Ngọc T1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cháu Nhật A đủ 18 tuổi. Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Từ ngày 01/7/2024, lương tối thiểu vùng tại thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh là 3.860.000 đồng/tháng. Vì vậy, cần buộc anh Lê Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Phạm Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và anh Lê Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 227, 228, 338, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Huyền T

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền T được ly hôn anh Lê Ngọc T1.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Nhật A, sinh ngày 09/12/2016 cho chị Phạm Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lê Ngọc T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại biên lai số 0000152 ngày 29/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Lê Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

4.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Hưng Trí;
  • - Lưu HSVA,TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị Huyền T yêu cầu ly hôn với anh Lê Ngọc T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger