|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/3/2025. V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
Ông Lê Hữu Tới.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 243/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1994.
- Nơi cư trú: Số nhà D đường Á, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- * Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1988.
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
- (Tại phiên tòa vắng mặt anh Đỗ Văn H, chị Trần Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 12/12/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ngày 17/10/2016. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì xuất hiện nhiều bất đồng quan điểm. Cuối năm 2018, anh H sang Đài Loan xuất khẩu lao động và từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước, mỗi người một nơi, không liên lạc với nhau và cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi sang Đài Loan anh H không quan tâm đến chị, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn H.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên chị Trần Thị D không yêu cầu Toà án không giải quyết
- Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung hay công nợ gì nên chị Trần Thị D cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết tại Toà án, chị D trình bày anh H vẫn ở Đài Loan nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án, chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thu thập thông tin xuất, nhập cảnh đối với anh Đỗ Văn H. Tại Công văn số 5204/XNC(T3) ngày 19/11/2024 của Phòng Q - Công an tỉnh T xác nhận anh Đỗ Văn H, sinh ngày 01/02/1988, CMND số [...], CCCD số [...] có địa chỉ cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 25/02/2024 đã sử dụng Hộ chiếu số C5062765 để xuất cảnh qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh H vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ của mình là bà Nguyễn Thị K và chị gái ruột là Đỗ Thị H1, địa chỉ ở phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ đẻ của anh H.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/02/2025, bà Nguyễn Thị K (là mẹ đẻ của anh H) trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Đỗ Văn H. Chị Trần Thị D là vợ anh H và là con dâu của bà. Năm 2016 anh H và chị D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Sau khi kết hôn anh H chị D chung sống cùng ông bà tại phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Giữa chị D và anh H mâu thuẫn như thế nào bà không biết. Năm 2018 anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ khi đi có về Việt Nam 2-3 lần thăm bà nhưng chị D không về cùng anh H. Thỉnh thoảng anh H có gọi điện về hỏi thăm sức khỏe của bà nhưng không nói địa chỉ của anh tại Đài Loan, vì vậy gia đình cũng như bà không biết để cung cấp cho Tòa án.
Nay chị D làm đơn xin ly hôn với anh H. Quan điểm của bà việc chị D và anh H ly hôn hay không là quyền của anh, chị, bà không can thiệp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã đến làm việc và tống đạt các văn bản tố tụng của
Tòa án. Bản thân bà là mẹ đẻ của anh H nên đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh H được biết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị D vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đỗ Văn H vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử (HĐXX) công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị D; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh H là bà Nguyễn Thị K và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị D, xử cho chị D được ly hôn anh Đỗ Văn H; Về con chung vợ chồng chị D anh H không có con chung nên đề nghị Toà án không giải quyết. Tài sản chung của vợ chồng chị D không yêu cầu nên đề nghị Toà án không giải quyết. Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Trần Thị D là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hoá, bị đơn là anh Đỗ Văn H đăng ký hộ khẩu tại phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống và lao động tại Đài Loan được xác nhận thông qua Phòng Q - Công an tỉnh T (Tại văn bản số 5204/XNC(T3) ngày 19/11/2024). Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hoá, bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa hiện đang cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị Trần Thị D cho biết anh Đỗ Văn H đã sang Đài Loan sinh sống và làm việc nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh H tại nước ngoài. Chị D chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam là gia đình bà Nguyễn Thị K (mẹ đẻ của anh H), địa chỉ ở phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà K đều trình bày không biết địa chỉ của anh H ở Đài Loan. Tuy anh H thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại nhưng không nói địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Do vẫn thường xuyên liên lạc với anh
H nên bà K sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh H biết. Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như các văn bản tố tụng của Toà án cho bà K để bà thông báo lại cho anh H, đồng thời tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
- [1.3] Về sự vắng mặt của đương sự. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Trần Thị D vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Đỗ Văn H mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Đỗ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị D đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Đến cuối năm 2018, anh Đỗ Văn H đi sang Đài Loan sinh sống và lao động, mỗi người một nơi và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã không liên hệ với nhau, chị không có địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan nên không cung cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Đỗ Văn H.
- Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Đỗ Văn H không có con chung nên Toà án không giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Trần Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh Đỗ Văn H không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh H yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Chị Trần Thị D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều; Khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị D.
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Đỗ Văn H.
- Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Đỗ Văn H không có con chung nên Toà án không giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Trần Thị D không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Anh Đỗ Văn H không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh H yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị D đã nộp theo Biên lai thu số 0000788 ngày 30/12/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị D và anh Đỗ Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quốc Thành |
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
