|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 3 - 2025 . “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Bảy và ông Trần Minh Hiếu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 14/3/2025, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Phạm Thanh L, sinh ngày: 13/07/1986. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
* Bị đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/12/2024, các lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn Phạm Thanh L trình bày: Bà và ông Lê Văn M quen biết, có tình cảm yêu thương nhau và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới năm 2008, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 19/05/2008. Quá trình chung sống, ông bà có ba người con chung tên Lê Ngọc V, sinh ngày 12/9/2009; Lê Ngọc T, sinh ngày 10/8/2022 hiện đang sống với bà L và Lê Trọng T1, sinh ngày 15/4/2018, hiện đang sống chung với ông M. Thời gian đầu, ông bà chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, từ đó dẫn đến thường xuyên cự cãi, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Bà L và ông M không còn sống chung với nhau từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn và hôn nhân không thể tồn tại được.
Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về hôn nhân: Bà L yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn M; Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung cho đến khi ba con đủ 18 tuổi và bà L không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo biên bản hòa giải ngày 27/12/2024 tại Tòa án, bị đơn Lê Văn M trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian, thủ tục kết hôn, con chung, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do ông và bà L bất đồng ý kiến trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Ông M và bà L không còn sống chung với nhau từ tháng 11/2022, trong thời gian sống ly thân, ông có gặp bà L 02 lần để thương lượng, mong muốn bà L quay về gia đình, để vợ chồng đoàn tụ và cùng lo cho các con nhưng bà L không đồng ý nên ông bà không nói chuyện với nhau, cũng không quan tâm nhau từ đó đến nay. Nay bà L yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý, vì ông còn thương vợ con, mong muốn bà L quay về gia đình, để vợ chồng đoàn tụ và cùng nuôi dạy các con. Trường hợp theo quy định của pháp luật buộc phải ly hôn thì tôi cũng đồng ý; Về con chung: Hai con chung tên V và T hiện đang do bà L nuôi dưỡng, còn con chung tên T1 hiện đang do ông nuôi dưỡng từ khi ông và bà L không sống chung cho đến nay. Trường hợp phải ly hôn với bà L, thì tôi yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Lê Trọng T1, sinh ngày: 15/04/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông đồng ý giao hai con chung tên Lê Ngọc V, sinh ngày: 12/09/2009 và Lê Ngọc T, sinh ngày: 10/08/2022 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về con chung như sau: Do con chung tên Lê Trọng T1, sinh ngày: 15/04/2018 hiện đang sống chung với ông M, T1 có nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với ông M và ông M cũng đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con tên T1, nên bà L đồng ý giao con cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đến thời điểm mở phiên tòa xét xử hôm nay, các đương sự vẫn không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy tại phiên tòa, bị đơn là ông Lê Văn M đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn Mộng. Đồng thời tại phiên tòa xét xử, bà L có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về con chung như sau: Theo đơn khởi kiện ngày 03/122024 bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung tên Lê Ngọc V, sinh ngày: 12/09/2009, Lê Trọng T1, sinh ngày: 15/04/2018 và Lê Ngọc T, sinh ngày: 10/08/2022 cho đến khi ba con đủ 18 tuổi và bà L không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con. Nay bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên V và T cho đến khi hai con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng ý giao con chung tên T1 cho ông M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, bà không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là tự nguyện, nội dung thay đổi không vượt quá phạm vi khởi kiện và đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông M tổ chức cưới nhau trên tinh thần tự nguyện vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 19/05/2008 theo quy định của pháp luật, nên được pháp luật công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp và khi các bên phát sinh tranh chấp thì được giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, bà L vẫn cương quyết ly hôn với ông M, còn ông M không đồng ý ly hôn vì cho rằng con chung còn nhỏ và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng chăm lo cho con, tuy nhiên ông M cũng thừa nhận giữa ông và bà L không thương lượng đoàn tụ được cũng như vợ chồng ông không còn quan tâm nhau từ năm 2022 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng phải được cả hai cùng vun đắp, xây dựng, không thể xuất phát từ một bên, việc bà L cương quyết ly hôn, không muốn về sống chung cùng ông M, thì không ai có quyền ép buộc bà L phải sống chung cùng ông M. Trong quá trình chung sống, bà L và ông M phát sinh mâu thuẫn, nhưng ông bà không tìm biện pháp hàn gắn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, kéo dài. Trong thời gian này, thì ông bà cũng không có biện pháp để vợ chồng hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tạo điều kiện hòa giải, nhằm hàn gắn mối quan hệ vợ chồng để ông bà đoàn tụ nhưng bà L vẫn cương quyết ly hôn và ông M không còn biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, nên hòa giải không thành. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Mâu thuẫn vợ chồng của các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là Phạm Thanh L, tuyên bố bà L được ly hôn với bị đơn là ông Lê Văn M.
[3.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà L và ông M có ba người con chung tên Lê Ngọc V, sinh ngày: 12/09/2009, Lê Trọng T1, sinh ngày: 15/04/2018 và Lê Ngọc T, sinh ngày: 10/08/2022; Lời khai này của bà L phù hợp với Giấy khai sinh con chung bà L cung cấp và được lưu trong hồ sơ vụ án. Đồng thời bị đơn M cũng thừa nhận về con chung là đúng.
Xét thấy, từ khi bà L và ông M không còn sống chung với nhau, thì hai con chung tên V và T vẫn sống chung với bà L, được bà L chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và ông M cũng đồng ý giao hai con chung cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, không có tranh chấp gì về quyền nuôi con. Còn con chung tên T1 vẫn sống chung với ông M, được ông M chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và bà L cũng đồng ý giao con chung tên T1 cho ông M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, không có tranh chấp gì về quyền nuôi con. Đồng thời, con chung tên V có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với bà L và con chung tên T1 có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với ông M sau khi bà L và ông M ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao hai con chung tên V và T cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên T1 cho ông M tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chung, cũng như ổn định môi trường sống cho con chung, đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao hai con chung tên Lê Ngọc V, sinh ngày: 12/09/2009 và Lê Ngọc T, sinh ngày: 10/08/2022 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi; giao con chung tên Lê Trọng T1, sinh ngày: 15/04/2018 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc bà L và ông M đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Bà L và ông M đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, không ai được quyền cản trở.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông M đều thừa nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách như đã phân tích trên.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
TUYÊN XỬ:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thanh L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thanh L được ly hôn với ông Lê Văn M.
- Về con chung: Giao hai con chung tên Lê Ngọc V, sinh ngày: 12/09/2009 và Lê Ngọc T, sinh ngày: 10/08/2022 cho bà Phạm Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi; Giao con chung tên Lê Trọng T1, sinh ngày: 15/04/2018 cho ông Lê Văn M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc bà L và ông M đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Bà Phạm Thanh L và ông Lê Văn M đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thanh L và ông Lê Văn M đều thừa nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thanh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình không có giá ngạch, được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009132 ngày 09/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Bà L đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm. Ông M không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn (có mặt) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Bích Duyên |
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (ly hôn và nuôi con) Loan - Mộng
