|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Nhạn
Bà Cao Thị Mỹ Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 287/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ T, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Số nhà B, ấp A, xã Đ, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/5/2025, các lời khai tiếp theo có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Thanh S xây dựng hôn nhân năm 2013, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 01 năm nay, từ lúc ly thân đến nay chị và anh S không có gặp nhau hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Nay chị xác định hôn nhân không thể tiếp tục được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thanh S.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Trần Thanh S có ba người con chung tên Trần Hiếu M, sinh ngày 28/5/2024, Trần Hiểu L, sinh ngày 07/11/2015 và Trần Bảo Y, sinh ngày 01/10/2020. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu M và cháu L, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Chị giao cháu Y cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung vả nợ chung: Chị và anh S không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình làm việc tại Tòa án bị đơn anh Trần Thanh S trình bày: Anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày của chị T cụ thể: Anh đồng ý ly hôn với chị T; đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng anh đồng ý, anh đồng ý tiếp tục nuôi cháu Y, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung anh thống nhất với chị T là không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trình bày quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định cho chị T được ly hôn với anh S; giao cháu L và cháu M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Y cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng: do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; tài sản chung và nợ không đặt ra giải quyết. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Chị Võ Thị Mỹ T yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Trần Thanh S, bị đơn có địa chỉ tại thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị T và anh S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh S là phù hợp quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T và anh Trần Thanh S tự nguyện sống chung với nhau năm 2013 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của chị T và anh S là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên nhân ly hôn theo chị T trình bày là do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn, trong thời gian ly thân mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, các bên cũng không có biện pháp hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Quá trình làm việc tại Tòa án anh S cũng đồng ý ly hôn với chị T. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mỹ T được ly hôn với anh Trần Thanh S.
[4] Về con chung: Chị T yêu cầu nuôi con chung, anh S cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự nguyện thỏa thuận của chị T và anh S, giao cháu Trần Hiếu M, sinh ngày 28/5/2024, Trần Hiểu L, sinh ngày 07/11/2015 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Bảo Y, sinh ngày 01/10/2020 cho anh S được tiếp tục nuôi dưỡng.
[5] Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[8] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T được ly hôn với anh Trần Thanh S.
- 2. Về con chung: Giao cháu Trần Hiếu M, sinh ngày 28/5/2024, Trần Hiểu L, sinh ngày 07/11/2015 cho chị Võ Thị Mỹ T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Bảo Y, sinh ngày 01/10/2020 cho anh S được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Trần Thanh S và chị Võ Thị Mỹ T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- 3. Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- 4. Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- 5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Võ Thị Mỹ T phải nộp 75.000đ; chị T đã dự nộp 300.000đ tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005547 ngày 22/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án, hoàn lại cho chị T số tiền 225.000đ. Buộc anh Trần Thanh S phải nộp án phí số tiền 75.000đ.
- 6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tạ Văn Cung |
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tiên yêu cầu ly hôn với anh Sang
