TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST |
|
Ngày: 18 – 02 – 2025 |
|
“V/v: Tranh chấp ly hôn” | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành;
Bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 447/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Ngọc Lan T, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn A, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định (Đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc B, sinh năm 1995; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm D+25, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Trần Ngọc B1, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm D+25, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Là bố đẻ của bị đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Võ Ngọc L T trình bày:
Chị và anh Trần Ngọc B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 12 tháng 5 năm 2023. Sau khi chung sống được một thời gian, giữa hai người bất đồng quan điểm, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh B đã xuất cảnh sang Đ từ tháng 9 năm 2023, từ đó anh ấy không còn liên lạc với chị. Hiện nay chị thấy tình cảm giữa chị và anh B không còn nên yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Ngọc B.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh Trần Ngọc B chưa có con chung, tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Ngọc B: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện, các tài liệu do nguyên đơn giao nộp và các văn bản tố tụng về việc mở phiên họp, phiên tòa cho bị đơn thông qua người làm chứng là bố để của bị đơn ông Trần Ngọc B1, thông qua ông B1 anh B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Lời trình bày của người làm chứng ông Trần Ngọc B1: Ông có quan hệ với bị đơn là bố đẻ. Về quan hệ hôn nhân, con chung giữa chị T và anh B đúng như chị T trình bày. Sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án và bản sao các tài liệu do nguyên đơn nộp cho Tòa án ông đã thông báo cho anh B biết nội dung các văn bản đó thông qua nền tảng mạng xã hội nhưng vì lý do công việc không ổn định nên anh B không có địa chỉ nơi ở cụ thể do đó không có căn cứ để cung cấp cho Tòa án và anh ấy cũng không trình bày ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để gửi về Việt Nam. Thông qua ông anh B đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt cho anh B và cam đoan thông báo cho anh B biết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người làm chứng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 77 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Ngọc B mặc dù đã được bố đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc nguyên đơn khởi kiện vụ án mà mình tham gia với tư cách là bị đơn nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành và
thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vì vậy vụ án được xét xử theo thủ tục chung.
Về nội dung: Xét thấy chị Võ Ngọc L T và anh Trần Ngọc B là những người đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12 tháng 5 năm 2023 không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Chị T và anh B đã bất đồng quan điểm, không quan tâm lẫn nhau điều này cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Võ Ngọc Lan T được ly hôn anh Trần Ngọc B.
Con chung, tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Án phí: Buộc chị Võ Ngọc Lan T phải chịu nghĩa vụ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Trần Ngọc B có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm D+25, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.. Văn bản số 5118/QLXNC-Đ1 ngày 28/11/2024 của Phòng Q, Công an tỉnh N cho biết, anh Trần Ngọc B đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay N lần cuối là ngày 20/9/2023 đến nay chưa nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị anh Trần Ngọc B vắng mặt, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn, tiến hành xác minh, nhưng không có kết quả. Lời trình bày của ông Trần Ngọc B1 là bố đẻ của bị đơn thì ông B1 đã thông báo nội dung và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn mà Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết cho anh B nhưng anh ấy vẫn không cung cấp địa chỉ nơi cư trú hiện nay của mình, chỉ cho biết đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Bởi vậy nên, được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối cung cấp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên
đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn, người làm chứng đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì phiên tòa.
[3] Nội dung vụ án: Đánh giá lời khai của nguyên đơn, người làm chứng và các tài liệu có tại hồ sơ Hội đồng xét xử có căn cứ để khẳng định:
[3.1]. Quan hệ hôn nhân:
Tại thời điểm kết hôn chị T và anh B đủ điều kiện kết hôn theo luật định, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Năm 2023, anh B xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam từ đó giữa T và anh B phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không quan tâm lẫn nhau cho thấy nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm vào khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Võ Ngọc L Tường được ly hôn với anh Trần Ngọc B theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
[3.2]. Con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh B chưa có con chung, tài sản chung, nợ chung; các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu nghĩa vụ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 19; Các Điều 51, 56, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Võ Ngọc Lan T được ly hôn bị đơn anh Trần Ngọc B.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có con chung, không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí: Buộc chị Võ Ngọc Lan T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Trọng T1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013194 ngày 09/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lam |
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
