TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 12 - 2025 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Thế và bà Vũ Thị Tịnh.
Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Bình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Mai Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 16 - 12 - 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 85/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 38/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 10/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 21/2025/QĐST- HNGĐ ngày 26/11/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: chị Phạm Thị H, sinh năm: 1997; nơi thường trú: thôn V, xã X, tỉnh Hưng Yên
* Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1993; nơi thường trú: đội H, thôn A, xã X, tỉnh Hưng Yên;
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1993, trú tại: đội H, thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xã K, tỉnh Hưng Yên) vào năm 2024. Hôn nhân giữa chị và anh T là hoàn toàn tự nguyện, có thời gian tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên vào ngày 01/3/2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại thôn A, xã B. Quá trình chung sống, vợ chồng chị hạnh phúc được vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng về quan điểm, lối sống. Đến tháng 10/2024, mâu thuẫn vợ chồng chị trở nên trầm trọng và đã sống ly thân nhau kể từ đó đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ
chồng không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để chị sớm ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 08/5/2025, hiện tại cháu T1 đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cháu T1 cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu trưởng thành. Chị xét thấy có đủ điều kiện để đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức đóng góp đối với hai bên gia đình và ruộng canh tác: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: chị khẳng định vợ chồng không có gì liên quan nên không yêu cầu tòa giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:
Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn cũng giống như chị H trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng anh có một thời gian ngắn hạnh phúc, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng về quan điểm, lối sống, chị H đã nhiều lần bỏ đi khỏi nhà nhưng lần gần đây nhất là từ tháng 10/2024, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở X, Hưng Yên sinh sống và không trở về đoàn tụ với anh nữa. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh cũng nhất trí vì anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng anh có một con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 08/5/2025, hiện tại cháu T1 đang ở với chị H. Nếu ly hôn, anh nhất trí quan điểm của chị H, giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Nếu chị H có quan điểm yêu cầu cấp dưỡng nuôi con phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện kinh tế của anh thì anh chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất và công sức đóng góp đối với hai bên gia đình: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Đình T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
[1]. Về việc tuân theo quy định của pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng dân sự.
[2]. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81,
82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn anh T; giao con chung của vợ chồng chị H là cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 08/5/2025 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T1 trưởng thành; ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung, đất ruộng và công sức đóng góp đối với hai bên gia đình: không đặt ra giải quyết. Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 02/10/2025, chị H có đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình xin ly hôn với anh Nguyễn Đình T và giải quyết về vấn đề con chung. Anh T có hộ khẩu thường trú tại xã K, tỉnh Hưng Yên nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt (có đơn xin vắng mặt), bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được UBND xã B (nay là xã K) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/03/2024. Việc kết hôn đối với chị H và anh T đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị H, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của chị H, anh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, quá trình chung sống, vợ chồng chị H đã xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống không có hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm lối sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay; trong quá trình sống ly thân, hai bên không quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, tại buổi làm việc ngày 06/10/2025, anh T nhất trí ly hôn nhưng trong quá trình giải quyết, Toà án thông báo hai bên đến Toà án để tham gia hoà giải, giải quyết các vấn đề có liên quan nhưng anh T đều vắng mặt không có ý do nên không tiến hành hoà giải được và phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Từ những căn cứ nêu trên đã cho thấy tình cảm yêu thương gắn bó vợ chồng giữa chị H và anh T không còn, phản ánh đúng thực trạng hôn nhân của vợ chồng anh, chị là mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, có đầy đủ căn cứ cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H và giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống là phù hợp với thực trạng và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về con chung: vợ chồng chị H, anh T có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 08/5/2025, hiện nay cháu T1 đang ở với chị H. Nguyện vọng của chị H là xin tiếp tục được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1 đến khi cháu trưởng thành và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T cũng nhất trí quan điểm giao cháu T1 cho chị H nuôi dưỡng, anh sẽ cấp dưỡng nuôi con nếu chị H yêu cầu mức phù hợp. Do chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét về vấn đề này.
[4]. Về tài sản, công nợ, đất ruộng và công sức đóng góp đối với hai bên gia đình: Chị H và anh T khẳng định vợ chồng không có gì liên quan, không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[5]. Về công nợ: Chị H và anh T khẳng định vợ chồng không có công nợ chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào:
- - Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
* Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đình T;
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 08/5/2025 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T1 thành niên (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung;
Sau khi ly hôn, anh T được quyền thăm gặp và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H
đã nộp theo biên lai số 0001721 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị H đã thi hành xong phần án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trung Kiên |
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H ly hôn Nguyễn Đình T
