|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST
Ngày 16 – 6 – 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Chúc
- Ông Lữ Khắc Hồi
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số: 273/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QÐST-HNGĐ ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Sơn Thị H, sinh ngày 10/10/1985 (có mặt)
- Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 (vắng mặt không có lý do)
- Địa chỉ: ấp N, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 05/02/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Sơn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 26/12/2005. Sau khi kết hôn chị và anh T đi làm thuê trên Thành phố Hồ Chí Minh được một thời gian thì vợ chồng về sống chung với cha mẹ chị H tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian chung sống, chị và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không lo tập trung làm ăn, thường nhậu nhẹt, ngoài ra anh T còn có người phụ nữ khác bên ngoài dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị và anh T đã không sống chung từ tháng 07/2023 và anh T đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ đó cho đến nay. Nay chị xác định đời sống chung của vợ chồng chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Thị Trúc A, sinh ngày 02/9/2008 và Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/11/2018, chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, nên không có yêu cầu yêu quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T cố tình vắng mặt nên Tòa án phải giao cho người thân nhận thay theo quy định của pháp luật, anh T không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, vì vậy Tòa án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối với chị H và không tiến hành hòa giải được.
- Cháu Nguyễn Thị Trúc A là con chung của anh T và chị H có ý kiến trình bày như sau: Con là con ruột của cha Nguyễn Văn T và mẹ Sơn Thị H. Nay cha mẹ con ly hôn, con xin trình bày con có nguyện vọng được sống chung với mẹ.
Tại phiên tòa hôm nay là lần xét xử thứ hai, anh T vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T theo khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Sơn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn với anh Nguyễn Văn T, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu giải quyết.
- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220, 239, 240, 243, 247, 249, 250 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị H. Cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Trúc A, sinh ngày 02/9/2008 và Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/11/2018 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, đây cũng phù hợp theo nguyện vọng của cháu Trúc A. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Sơn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T, đây là vụ kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại ấp N, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn Văn T hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Sơn Thị H và anh Nguyễn Văn T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào năm 2005, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống, giữa chị H và anh T không hạnh phúc, theo chị H trình bày do anh T không lo tập trung làm ăn, mê cờ bạc và có người phụ nữ khác bên ngoài dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, giữa chị và anh T đã không sống chung với nhau từ tháng 7/2023 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa nhưng anh T không có văn bản và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Điều này chứng minh anh T không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ gia đình với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng của chị H và anh T không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 4 Nghị Quyết 01/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho chị H và anh T ly hôn là có cơ sở.
[4] Về con chung: Xét thấy, từ khi chị H và anh T không còn chung sống với nhau, cháu Nguyễn Thị Trúc A, sinh ngày 02/9/2008 và cháu Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/11/2018 được chị H nuôi dạy tốt, không bị ngược đãi, đánh đập, các cháu hiện đang sống chung với chị H tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tại biên bản xác minh và biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của con chung, cháu Trúc A có ý kiến trình bày nguyện vọng muốn sống chung với mẹ. Căn cứ Điều 6 Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Trúc A, sinh ngày 02/9/2008 và Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/11/2018 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị H đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị H cho rằng chị có đủ khả năng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung nên chị không có yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Sơn Thị H. Chị Sơn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Trúc A, sinh ngày 02/9/2008 và Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/11/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Đây cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trúc A.
Cấp dưỡng nuôi con: Chị H không có yêu cầu anh T cấp dưỡng và anh T cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị Sơn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Sơn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009886 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Chị Sơn Thị H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Hậu |
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Sơn Thị Hương. Chị Sơn Thị Hương được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tú. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Trúc Anh, sinh ngày 02/9/2008 và Nguyễn Khánh Đang, sinh ngày 19/11/2018 cho chị Hương trực tiếp nuôi dưỡng. Đây cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trúc Anh. Cấp dưỡng nuôi con: Chị Hương không có yêu cầu anh Tú cấp dưỡng và anh Tú cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh Nguyễn Văn Tú có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Chị Sơn Thị Hương không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc chị Sơn Thị Hương phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009886 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Chị Sơn Thị Hương đã nộp đủ án phí.
