Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/6/2025

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đức San và Ông Nguyễn Văn Tuyến

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Cẩm Vân- Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 13/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/TLST- HNGĐ ngày 27/02/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QÐST - HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 2001;

Địa chỉ: Khu C, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Khu H, xã H, huyện C.

(Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Chị và anh Phan Văn H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 19/8/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn cuộc sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H có chơi bời hay uống rượu bia, có hành vi bạo lực đối với chị. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở xã P, huyện C sinh sống từ cuối năm 2022, vợ chồng sống ly thân từ đó, không ai còn quan tâm tới ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh Phan Văn H.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Phan Trọng H1, sinh ngày 09/9/2019 và cháu Phan Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2021. Hiện nay cháu H1 đang ở với chị, còn cháu T đang ở với anh H. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phan Trọng H1 và giao cháu Phan Thị Thanh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Chị P xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phan Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện được quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn là đúng quy định pháp luật. Đối với bị đơn đã vi phạm khoản 15, 16 Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Phan Văn H.

Về con chung: Giao cháu Phan Trọng H1, sinh ngày 09/9/2019 cho chị Nguyễn Thị P và giao cháu Phan Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2021 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi từng con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.

Chị P, anh H có quyền đi lại, thăm nom đối với con chung chưa thành niên không ai được ngăn cấm cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp, đất nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa chị Nguyễn Thị P với anh Phan Văn H. Bị đơn là anh Phan Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu H, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị Nguyễn Thị P và anh Phan Văn H. Chị Nguyễn Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Tòa án nhân dân huyện C tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị P là phù hợp.

Đối với anh Phan Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Văn H là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Phan Văn H có đăng ký kết hôn với nhau ngày 19/8/2019 tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ, hai bên tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Đây là cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, phù hợp với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống, chị P và anh H đã xảy ra mâu thuẫn. Tòa án đã thực hiện thủ tục báo gọi nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa án để trình bày quan điểm. Tuy nhiên, qua lời trình bày của nguyên đơn, biên bản lấy lời khai của anh H2 (anh trai ruột của anh H) và qua xác minh tại địa phương thì vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nên chị P đã về nhà mẹ đẻ ở P, huyện C sinh sống từ cuối năm 2022 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay và anh chị không có biện pháp nào hàn gắn quan hệ vợ chồng. Từ đó có thể thấy, mâu thuẫn của chị P và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc chị P đề nghị xin được ly hôn anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Phan Văn H có 02 con chung là cháu cháu Phan Trọng H1, sinh ngày 09/9/2019 và cháu Phan Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2021. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phan Trọng H1 và giao cháu Phan Thị Thanh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét đề nghị của chị P là có căn cứ bởi lẽ hiện nay chị P đang là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H1, còn cháu T do anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc dù anh H không đến Tòa án để trình bày quan điểm của mình, nhưng qua lời trình bày của anh Nguyễn Văn H2 (anh trai ruột của anh H) và qua xác minh tại địa phương, hiện nay anh H làm thợ xây, do bận công việc nên không đến Tòa án làm việc được. Hiện cháu T đang sinh sống, học tập ổn định cùng với anh H ở địa phương và có sự hỗ trợ từ gia đình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho con chung cần tiếp tục giao cháu Phan Trọng H1 cho chị P và giao cháu Phan Thị Thanh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế và phù hợp quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P đề nghị không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào. HĐXX xét thấy phù hợp cần được chấp nhận, bởi lẽ mỗi bên đều trực tiếp nuôi dưỡng 01 (một) con chung, hơn nữa anh H không đến Tòa án làm việc nên không thể hiện được quan điểm của mình về vấn đề này. Khi nào anh H có đề nghị thay đổi về cấp dưỡng sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Chị Nguyễn Thị P không đề nghị Toà án giải quyết. Mặt khác, anh Phan Văn H không có quan điểm gì về vấn đề này nên không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 và khoản 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Phan Văn H.

Về con chung: Giao cháu Phan Trọng H1, sinh ngày 09/9/2019 cho chị Nguyễn Thị P và giao cháu Phan Thị Thanh T, sinh ngày 14/3/2021 cho anh Phan Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi từng con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị P đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005113 ngày 27/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - UBND xã H, huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ HNGĐ Phượng - Hà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger