Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/06/2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Công Thẩm và bà Phan Kim Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST ngày 15 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST ngày 27 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân K - sinh năm 1979

    Nơi ĐKHKTT: khối A, phường T, TP .V, Nghệ An - Có mặt

  2. Bị đơn: Chị Lê Thị Mai H - sinh năm 1983

    Nơi ĐKHKTT: khối A, phường T, TP .V, Nghệ An - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/12/2024, bản tự khai ngày 20/01/2025 và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Lê Thị Mai H là vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48 do UBND phường T, TP .V, tỉnh Nghệ An cấp ngày 20/03/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Cuộc sống chung của vợ chồng thường xuyên cãi vã gây bất hòa trong gia đình. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống của cả hai vợ chồng không còn phù hợp nhau nữa. Mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được, tình cảm vợ chồng không cải thiện được, anh K xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án xử cho anh được ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Xuân K1 - sinh ngày 03/07/2008 và Nguyễn Thanh T – sinh ngày 19/10/2012. Ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là chị Lê Thị Mai H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại bản tự khai ngày 20/01/2025 và tại các biên bản hòa giải chị H đều thừa nhận về điều kiện và thời gian đăng kí kết hôn như anh K trình bày. Cuộc sống của vợ chồng cũng có hạnh phúc và cũng có những bất đồng quan điểm sống do không thấu hiểu nhau. Thời gian gần đây, anh K có biểu hiện không quan tâm đến gia đình nên giữa chị và anh K không có tiếng nói chung. Chị xét thấy vẫn còn tình cảm với anh K nên không đồng ý ly hôn và có nguyện vọng đoàn tụ gia đình để nuôi dạy con cái.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Xuân K1 - sinh ngày 03/07/2008 và Nguyễn Thanh T – sinh ngày 19/10/2012. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cháu và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: xử cho Anh Nguyễn Xuân K được ly hôn với chị Lê Thị Mai H; về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Xuân K1 - sinh ngày 03/07/2008 và Nguyễn Thanh T – sinh ngày 19/10/2012. Cháu K1 là con trai và đang sinh sống cùng anh K nên đề nghị giao cháu K1 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; cháu T là con gái, đang còn nhỏ nên đề nghị giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; đề nghị tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh K và chị H do không ai yêu cầu; về tài sản: đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: anh K phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn. Bị đơn hiện cư trú tại thành phố V nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân K và chị Lê Thị Mai H là vợ chồng, kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, TP ., tỉnh Nghệ An ngày 20/03/2007. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả xác minh tại nơi cư trú cho thấy: quá trình chung sống giữa anh K và chị H hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên không có tiếng nói chung, tuy sống một nhà nhưng vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa anh K và chị H đã đến mức trầm trọng. Gia đình hai bên cũng như Tòa án đã hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể khắc phục được. Anh Khoa kiên quyết xin ly hôn, chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh K yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận.
  • - Về quan hệ con chung: Qua lời khai của anh K, chị H và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Quá trình chung sống anh K và chị H có 02 con chung là Nguyễn Xuân K1 - sinh ngày 03/07/2008 và Nguyễn Thanh T – sinh ngày 19/10/2012. Ly hôn anh K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một trong hai cháu đến khi trưởng thành và giao cháu còn lại cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu. Xét nguyện vọng của anh K, chị H là chính đáng; cháu K1 là con trai nên cần giao cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; cháu T còn nhỏ, là con gái nên cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Anh K, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về quan hệ tài sản chung: anh K, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: anh K phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 40, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân K.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Xuân K được ly hôn với chị Lê Thị Mai H.
  2. Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh K và chị H có 02 con chung là Nguyễn Xuân K1 - sinh ngày 03/07/2008 và Nguyễn Thanh T – sinh ngày 19/10/2012. Giao cháu K1 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K, chị H do không ai yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, anh K, chị H có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.

  3. Về tài sản: Anh K, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh K đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0005124 ngày 10/01/2025.
  5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Nữ Hạnh Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger