Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 11- 6- 2025.

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Hoài Hiêm;

Ông Nguyễn Văn An.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Nghĩa- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025; và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1980 – Xin vắng mặt;

Địa chỉ: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Lê Hồng T, sinh năm 1980 - Vắng mặt.

Địa chỉ: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị R trình bày:

Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (nay là phường A, thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Sau khi chung sống vợ chồng chung sống tại ấp H, xã A, huyện T ( nay là khu phố H, phường A, thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên gây gỗ nhau, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, anh T thường xuyên bạo hành, vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay. Từ khi ly thân, chị và anh T không ai đặt vấn đề đoàn tụ.

Nay chị yêu cầu được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Lê Long H, sinh ngày 27/7/2000 và Lê Hồng Cẩm V, sinh ngày 21/7/2009 hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn cháu H đã trưởng thành có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập anh T đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh T không đến nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh T

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị R yêu cầu được ly hôn anh Lê Hồng T.

Về con chung: Cháu Lê Long H, sinh ngày 27/7/2000 đã thành niên và có khả năng lao động, sinh sống được, chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng. Nên không đặt ra giải quyết. Giao cháu Lê Hồng Cẩm V, sinh ngày 21/7/2009 cho chị R tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị R không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Chị R phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị R vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Lê Hồng T vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị R và anh T chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (nay là phường A, thị xã T), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên gây gỗ nhau, vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Qua xác minh tại địa phương không thể hiện được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị R và anh T Nhưng chị R và anh T đã ly thân từ năm 2021 đến nay mà không ai đặt vấn đề đoàn tụ, đồng thời Tòa án đã nhiều lần mời anh T đến Tòa làm việc, hòa giải nhưng anh T không đến, cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn với chị R. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị R và anh T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị R được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị R và anh T có hai con chung là có 02 người con chung tên Lê Long H, sinh ngày 27/7/2000 và Lê Hồng Cẩm V, sinh ngày 21/7/2009, cháu H đã trưởng thành có khả năng lao động chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Chị R yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị R và anh T ly thân, chị R là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, hiện cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cháu có nguyện vọng muốn sống chung với chị R. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu nên Hội đồng xét xử giao cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng cháu V là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị R không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí: Chị R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị R đối với anh Lê Hồng T.

Chị Nguyễn Thị R được ly hôn anh Lê Hồng T.

2. Về con chung: Cháu Lê Long H, sinh ngày 27/7/2000 đã thành niên và có khả năng lao động, sinh sống được, chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng. Nên không đặt ra giải quyết.

Giao cháu Lê Hồng Cẩm V, sinh ngày 21/7/2009 cho chị Nguyễn Thị R được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị R không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị R, anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012333 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị R đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho chị R, anh T biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- TAND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND thị xã Trảng Bàng;

- Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;

- UBND phường An Hòa.

- Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Phạm Văn Hảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger