Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 48/2025/HNGĐ - ST.

Ngày: 11/6/2025.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Ngô Thị Luân.
  2. Bà Trần Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2025/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 04 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên Tòa số 18/2025/QĐST - DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Đinh Quyết T, sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Bà H có mặt; ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trình bày: Bà và ông T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Ông T thường xuyên chơi bời, uống rượu và chửi bới, đánh đập, xúc phạm khiến bà ảnh hưởng về tinh thần, lúc nào cũng trong trạng thái lo lắng, sợ hãi. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà xác định vợ chồng ông bà có hai con chung là cháu Đinh Quốc B, sinh ngày 29/10/2002 và cháu Đinh Thị Kim L, sinh ngày 14/5/2005. Hiện nay các cháu đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên khi ly hôn bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà xác định để vợ chồng ông bà tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn ông Đinh Quyết T trình bày: Ông và bà H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L. Cuộc sống chung của vợ chồng ông bà cũng hòa thuận hạnh phúc chứ không sảy ra mâu thuẫn gì. Từ khoảng 03 năm nay vợ ông bị bệnh trầm cảm dẫn tới suy nghĩ có phần không được đúng đắn. Nay vợ ông yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung là cháu Đinh Quốc B, sinh năm 2002 và cháu Đinh Thị Kim L, sinh năm 2005. Hiện nay các cháu đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên ông không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Ông xác định để vợ chồng ông bà tự thỏa thuận giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thu H. Xử cho bà Trần Thị Thu H và ông Đinh Quyết T được ly hôn. Về con chung: Các đương sự xác định hiện nay các cháu đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà H, ông T xác định để vợ chồng ông bà tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà H, ông T xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Đinh Quyết T vắng mặt tại phiên Tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2001 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2001 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa hôm nay. Bà H xác định mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên bà giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T. Bà H cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng ông bà hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Ông T thường xuyên chơi bời, uống rượu và chửi bới, đánh đập, xúc phạm khiến bà bị ảnh hưởng về tinh thần, lúc nào cũng trong trạng thái lo lắng, sợ hãi. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Còn ông T thì cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng ông bà cũng hòa thuận hạnh phúc chứ không sảy ra mâu thuẫn gì. Từ khoảng 03 năm nay vợ ông bị bệnh trầm cảm dẫn tới suy nghĩ có phần không được đúng đắn. Nay vợ ông yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý.

Xét thấy, trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng ông T, bà H thường xuyên sảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống, lối sống. Do bất đồng với nhau nên tình cảm vợ chồng ông bà dành cho nhau không còn. Đồng thời qua xác minh thì được trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng bà H ông T hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống. Khoảng 5 đến 6 năm nay mặc dù ông T, bà H vẫn chung sống với nhau nhưng tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn. Vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc cho nhau. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, xử cho bà H và ông T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Bà H, ông T xác định vợ chồng ông bà có hai con chung là cháu Đinh Quốc B, sinh năm 2002 và cháu Đinh Thị Kim L, sinh năm 2005. Hiện nay các cháu đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên ông bà không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Bà H, ông T xác định về tài sản chung để vợ chồng ông bà tự thỏa thuận, giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Bà H, ông T xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Buộc bà Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của bà Trần Thị Thu H, xử cho bà Trần Thị Thu H và ông Đinh Quyết T được ly hôn.
  2. Về án phí: Bà Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005358 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/6/2025). Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu AV – HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hữu Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ - ST. ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiền - Thắng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger