Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày 08-4-2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Trưởng;

Ông Lê Ngọc Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 2001;

Địa chỉ: xóm G, thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Xóm D, thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt lần 02 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27/12/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:

Về hôn nhân:

Bà và ông Nguyễn Đình M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 14/8/2020, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sinh sống tại nhà chồng ở thôn V, xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Đình H, sinh ngày 24/10/2020, hiện nay con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Mâu thuẫn phát sinh từ tháng 7 năm 2024, hiện nay bà và ông M đã ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông M ghen tuông vô cớ, ba mẹ chồng không tôn trọng bà, cứ nói bà ở nhà không làm ra tiền, suốt ngày ăn bám ông M. Bà làm nghề công nhân, thu nhập bình quân 3.000.000 đồng/tháng. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đình M.

Về con chung:

Bà yêu cầu nuôi 01 con chung tên Nguyễn Đình H, sinh ngày 24/10/2020; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung:

Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông M không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân:

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Đình M không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Bích V được ly hôn ông Nguyễn Đình M.

Về con chung:

Đề nghị giao con chung tên Nguyễn Đình H, sinh ngày 24/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Bích V tiếp tục nuôi dưỡng; ông Nguyễn Đình M không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung:

Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V có đơn yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Đình M. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Đình M có đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
  2. [2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị Bích V; ông Nguyễn Đình M được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Đình M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 14/8/2020 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Theo bà V trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ tháng 7 năm 2024, hiện nay bà và ông M đã ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông M ghen tuông vô cớ, ba mẹ chồng không tôn trọng bà, nói bà ở nhà không làm ra tiền, suốt ngày ăn bám ông M.

    Đối với bị đơn ông Nguyễn Đình M: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành các thủ tục thông báo thụ lý và thông báo các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải hợp lệ, nhưng tất cả các buổi làm việc tại Tòa án ông M đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, ông M cũng không có mặt, điều này chứng tỏ ông cũng không muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân của ông bà.

    Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Đình M mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

  4. [4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Đình M có 01 con chung tên Nguyễn Đình H, sinh ngày 24/10/2020, hiện đang được bà V nuôi dưỡng ổn định, nên giao cháu H cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
  5. [5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Bích V không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích V không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. [7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  8. [8] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

    Bà Nguyễn Thị Bích V được ly hôn ông Nguyễn Đình M.

  2. 2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đình H, sinh ngày 24/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Bích V tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Đình M được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  4. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  5. 5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Bích V phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0004856, ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
  6. 6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tình;
  • - Các bên đương sự;
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - UBND xã Ân Tín;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger