Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/12/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Lâm.

- Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/10/2025 giữa:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2000. Nơi thường trú: xóm D, xã R, tỉnh Ninh Bình

- Bị đơn: anh Hoàng Minh T, sinh năm 1994. Nơi thường trú: thôn E, xã H, thị xã Q, nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam H1.

Vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H khai:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 25 tháng 02 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn E, xã H, thị xã Q, nay là thôn H, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Chị H và anh T sống hòa thuận hạnh phúc được vài năm, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau. Tháng 4 năm 2024, anh T vi phạm pháp luật và phải đi thi hành án tại Trại giam H1 với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, án phạt là 05 năm tù. Anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay, chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Minh T. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có 02 con chung là Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao 02 con chung Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023 cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không đề nghị anh Hoàng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Minh T hiện đang thi hành án tại Trại giam H2, anh T có quan điểm trình bày trong bản tự khai như sau. Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 25 tháng 02 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn E, xã H, thị xã Q, nay là thôn H, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2024, anh T vi phạm pháp luật và phải đi thi hành án tại Trại giam H1 với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, án phạt là 05 năm tù. Anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh không đồng ý. Về con chung: anh và chị Nguyễn Thị Thu H có 02 con chung là Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023. Khi ly hôn, anh T đề nghị Tòa án giao con chung Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 cho anh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục còn giao con chung Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cacscon chung thành niên (đủ 18 tuổi). Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 29/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh; đại diện trưởng khu H, phường Q, tỉnh Quảng Ninh cung cấp như sau. Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 25 tháng 02 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được vài năm, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau. Tháng 4 năm 2024, anh T vi phạm pháp luật và phải đi thi hành án tại Trại giam H1 với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, án phạt là 05 năm tù. Anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay, chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Minh T. Quan điểm của trưởng khu là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết việc chị H xin ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có 02 con chung là Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023. Khi anh chị giải quyết ly hôn, quan điểm của trưởng khu là đề nghị Tòa án xem xét giao con chung cho người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có tài sản chung, có công nợ chung hay không, trưởng khu không nắm được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải số 120/TB-TA ngày 16/10/2025, Toà án thông báo cho các đương sự có mặt tại trụ sở Trại giam H1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vì vậy, Toà án đã lập Biên bản không mở được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Hoàng Minh T. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có 02 con chung là Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao 02 con chung Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023 cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không đề nghị anh Hoàng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Minh T đang đi Thi hành án nên vắng mặt và không có quan điểm trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, xử cho chị H được ly hôn với anh Hoàng Minh T. Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có 02 con chung là Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023. Khi ly hôn, giao 02 con chung Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1 Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền xét xử của Tòa án: chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Minh T có địa chỉ cư trú tại thôn H, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang thi hành án tại Trại giam H1. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T theo quy định pháp luật nhưng anh T vắng mặt lần thứ hai do đang phải thi hành án tại Trại giam H1, còn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2 Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 25 tháng 02 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn E, xã H, thị xã Q, nay là thôn H, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Chị H và anh T sống hòa thuận hạnh phúc được vài năm, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau. Tháng 4 năm 2024, anh T vi phạm pháp luật và phải đi thi hành án tại Trại giam H1 với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, án phạt là 05 năm tù. Anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay, chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Minh T

Xét tình trạng hôn nhân của chị H và anh T là mâu thuẫn đã trầm trọng không giải quyết khắc phục được, anh T do nghiện ma túy và vi phạm pháp luật phải đi Thi hành án tại Trại giam H1 nên cuộc sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn chung sống với nhau và giữa hai người cũng không còn sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các nghĩa vụ tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có 02 con chung là Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao 02 con chung Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Chị Nguyễn Thị Thu H hiện đang làm tự do, thu nhập khoảng 15.000.000 đến 20.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung chu đáo, mặt khác anh Hoàng Minh T hiện đang đi chấp hành án nên giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.

Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị H là có căn cứ, phù hợp với thực tế cũng như sự phát triển của các con chung nên yêu cầu nhận nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc con chung của chị H được chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

3 Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4 Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Căn cứ Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Hoàng Minh T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung Hoàng Thùy C, sinh ngày 21/7/2020 và Hoàng Nguyễn Minh A sinh ngày 13/12/2023 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0001038 ngày 08 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T. Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Hoàng Minh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 2 – Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Hà An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chap nhan yeu cau kk cua nguyen don
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger