Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 48/2025/DS - ST

Ngày 23/6/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Bá Công.
  2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Tp. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần P (O). Địa chỉ Trụ sở chính: Tòa nhà T, A T, phường T, thành phố T, TP Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Trịnh Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị B - Chức vụ: Giám đốc Bán lẻ (Theo Văn bản ủy quyền số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP P). Ủy quyền lại cho: Ông Đinh Văn Q – Chuyên viên thu hồi nợ và /hoặc ông Nguyễn Xuân N – Chuyên viên thu hồi nợ và /hoặc ông Lê Đình V- Trưởng bộ phận thu hồi nợ (Theo Giấy ủy quyền số 27/2024/UQ-OCB ngày 20/02/2025). Địa chỉ liên hệ: 34 – C Q, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Ông Q có mặt)
  2. Bị đơn: Ông: Đặng Thanh Q1 - Sinh năm: 1957. Bà: Lê Thị N1 - Sinh năm: 1961. Cùng trú tại: E H, tổ D, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và ý kiến trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã ký kết với Ngân hàng TMCP P (O) Hợp đồng tín dụng; Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại O, chi tiết như sau:

a. Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024.

  • Hạn mức cho vay ngắn hạn tối đa: 2.500.000.000 (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm triệu đồng);
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh phục vụ cho hoạt động kinh doanh thi công nội thất gỗ;
  • Thời hạn duy trì hạn mức tín dụng: 24 tháng kể từ ngày 30/8/2024;
  • Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân;
  • Lãi suất vay trong hạn: 8.7%/năm cố định trong 9 tháng đầu tiên, từ tháng 10 trở đi lãi suất được điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần. Trường hợp bên vay phát sinh nợ quá hạn từ 01 ngày trở lên đối với bất kỳ khoản vay nào tại OCB thì lãi suất cho vay ưu đãi đang được áp dụng sẽ được điều chỉnh thành lãi suất cho vay thông thường;
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

b. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024.

  • Hạn mức thẻ tín dụng: 30.000.000 (Bằng chữ: Ba mươi triệu đồng).

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 109, địa chỉ: Lô A khu B Khu T Bến xe Đ, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0302/2024/CTV/HĐTC ngày 30/8/2024 ký giữa OCB với ông Đặng Thanh Q1 tại Văn phòng C, thành phố Đà Nẵng. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 được ký kết giữa OCB với ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1. Như vậy, ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký kết với OCB.

Tính đến ngày 23/6/2025, ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP P được tổng số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 là 25.640.090 đồng, trong đó: Nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi: 25.640.090 đồng.

Tại phiên Tòa hôm nay Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu đã thể hiện tại đơn khởi kiện, cụ thể:

  • Buộc ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 2.698.307.411 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, sáu trăm chín mươi tám triệu, ba trăm linh bảy nghìn, bốn trăm mười một đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.529.705.121 đồng, nợ lãi: 167.302.290 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng, cụ thể: Theo Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 là 2.660.392.339 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.500.000.000 đồng, nợ lãi: 160.392.339 đồng; Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 là 37.915.072 đồng, trong đó: Nợ gốc: 29.705.121 đồng, nợ lãi: 6.909.951 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng.
  • Và tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 từ ngày 24/6/2025 cho đến khi ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P. Thanh toán khoản nợ ngay sau khi Quyết định, Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Nếu ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0302/2024/CTV/HĐTC ngày 30/8/2024 giữa OCB với ông Đặng Thanh Q1 tại Văn phòng C, thành phố Đà Nẵng là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cụ thể về đất thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 109, địa chỉ: Lô A khu B Khu T Bến xe Đ, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng có diện tích đất: 89,1 m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Về nhà: nhà cấp 4, có 02 tầng, diện tích sàn xây dựng thực tế: 160 m², diện tích xây dựng: 80 m², kết cấu xây dựng: tường xây, sàn đúc, mái tôn, tổng diện tích sử dụng khoảng 160 m², hiện tại nhà chưa có giấy phép xây dựng và chưa cập nhật vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn- ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, bị đơn không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.

* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các bên đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng; Riêng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 280, Điều 299, Điều 303, Điều 320, Điều 322 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 7, Điều 8 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1: Buộc ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tính đến ngày 23/6/2025 là: 2.698.307.411 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, sáu trăm chín mươi tám triệu, ba trăm linh bảy nghìn, bốn trăm mười một đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.529.705.121 đồng, nợ lãi: 167.302.290 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng, cụ thể:

  • Theo Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 là 2.660.392.339 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.500.000.000 đồng, nợ lãi: 160.392.339 đồng.
  • Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 là 37.915.072 đồng, trong đó: Nợ gốc: 29.705.121 đồng, nợ lãi: 6.909.951 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng.

Buộc ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 tiếp tục trả lãi, phí phát sinh kể từ ngày 24/6/2025 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký kết.

Trường hợp ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cụ thể về đất thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 109, địa chỉ: Lô A khu B Khu T Bến xe Đ, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng có diện tích đất: 89,1 m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Về nhà: nhà cấp 4, có 02 tầng, diện tích sàn xây dựng thực tế: 160 m², diện tích xây dựng: 80 m², kết cấu xây dựng: tường xây, sàn đúc, mái tôn, tổng diện tích sử dụng khoảng 160 m², hiện tại nhà chưa có giấy phép xây dựng và chưa cập nhật vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 (theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/02/2025 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn).

Trường hợp ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 hoàn tất xong khoản nợ thì phía Ngân hàng TMCP P hoàn trả lại cho ông Đặng Thanh Q1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 theo quy định tại Điều 322 BLDS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP P với ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP P với ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở nhưng ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 vẫn không trả được nợ. Như vậy, ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận tại hợp đồng. Việc khởi kiện của Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tính đến ngày 23/6/2025 là: 2.698.307.411 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, sáu trăm chín mươi tám triệu, ba trăm linh bảy nghìn, bốn trăm mười một đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.529.705.121 đồng, nợ lãi: 167.302.290 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng, cụ thể: Theo Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 là 2.660.392.339 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.500.000.000 đồng, nợ lãi: 160.392.339 đồng; Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 là 37.915.072 đồng, trong đó: Nợ gốc: 29.705.121 đồng, nợ lãi: 6.909.951 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 280 của Bộ luật dân sự; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên cần được chấp nhận.

[2.2] Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 24/6/2025 theo mức lãi suất do các bên thoả thuận tại:

Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 cho đến khi ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[2.3] Xử lý tài sản thế chấp:

Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0302/2024/CTV/HĐTC ngày 30/8/2024 tại Văn phòng C, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N ngày 30/8/2024 thì tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay bao gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cụ thể về đất thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 109, địa chỉ: Lô A khu B Khu T Bến xe Đ, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng có diện tích đất: 89,1 m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Về nhà: nhà cấp 4, có 02 tầng, diện tích sàn xây dựng thực tế khoảng: 160 m², diện tích xây dựng khoảng: 80 m², kết cấu xây dựng: tường xây, sàn đúc, mái tôn, tổng diện tích sử dụng khoảng 160 m², hiện tại nhà chưa có giấy phép xây dựng và chưa cập nhật vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 (theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/02/2025 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn).

Qua xem xét và đánh giá chứng cứ liên quan đến tài sản thế chấp, HĐXX xét thấy việc thế chấp tài sản được thực hiện đúng nội dung và hình thức, có đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo nợ vay đúng với quy định của pháp luật nên trong trường hợp ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 không thanh toán được nợ thì tài sản thế chấp nêu trên cần phải xử lý theo điều 299, 303, 320 Bộ luật dân sự để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP P.

Trường hợp ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 hoàn tất xong khoản nợ thì phía Ngân hàng TMCP P hoàn trả lại cho ông Đặng Thanh Q1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 theo quy định tại Điều 322 BLDS.

[3] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) Ngân hàng TMCP P tự nguyện chịu. (Đã nộp xong)

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P được chấp nhận nên bị đơn là ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

  • Căn cứ Điều 280; Điều 299, 303, 320, 322 của Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
  • Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP P đối với ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1.

Xử:

  1. Buộc ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tính đến ngày 23/6/2025 là: 2.698.307.411 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, sáu trăm chín mươi tám triệu, ba trăm linh bảy nghìn, bốn trăm mười một đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.529.705.121 đồng, nợ lãi: 167.302.290 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng, cụ thể: Theo Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024 là 2.660.392.339 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.500.000.000 đồng, nợ lãi: 160.392.339 đồng; Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024 là 37.915.072 đồng, trong đó: Nợ gốc: 29.705.121 đồng, nợ lãi: 6.909.951 đồng, nợ phí: 1.300.000 đồng.
  2. Buộc ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 tiếp tục trả lãi, phí phát sinh kể từ ngày 24/6/2025 cho đến khi trả dứt điểm nợ vay theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký kết: Hợp đồng tín dụng số 0302/2024/CTV/HĐTDHM ngày 30/8/2024; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/9/2024.
  3. Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cụ thể về đất thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 109, địa chỉ: Lô A khu B Khu T Bến xe Đ, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng có diện tích đất: 89,1 m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Về nhà: nhà cấp 4, có 02 tầng, diện tích sàn xây dựng thực tế khoảng: 160 m², diện tích xây dựng khoảng: 80 m², kết cấu xây dựng: tường xây, sàn đúc, mái tôn, tổng diện tích sử dụng khoảng 160 m², hiện tại nhà chưa có giấy phép xây dựng và chưa cập nhật vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 (theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/02/2025 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn).
  4. Án phí DS - ST: Ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 phải chịu là 85.966.148 đồng (T1 mươi lăm triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, một trăm bốn mươi tám đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí 41.713.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, bảy trăm mười ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 3588 ngày 02/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
  5. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) Ngân hàng TMCP P tự nguyện chịu. (Đã nộp xong).

Trường hợp ông Đặng Thanh Q1 và bà Lê Thị N1 hoàn tất xong khoản nợ thì phía Ngân hàng TMCP P hoàn trả lại cho ông Đặng Thanh Q1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DN 548265 số vào sổ cấp GCN: VP 00482 do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ cấp ngày 23/7/2024 theo quy định tại Điều 322 BLDS.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự quận N;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ T2

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/DS - ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 48/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP Phương Đông đối với ông Đặng Thanh Q và bà Lê Thị N.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger