Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/DS-ST

Ngày: 18-3-2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trương;

2. Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 227/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2025/QĐST- DS ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân thành phố G;

    Địa chỉ: số H N, khu phố I, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;

    Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị S - chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Uyên P - chức vụ: TB. Kiểm soát; (Xin vắng mặt).

    (Theo giấy ủy quyền số 10/GUQ- HĐQT ngày 07/8/2024).

  2. Bị đơn:
    1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980;
    2. Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1992;

    Cùng địa chỉ: số B T, khu phố E, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.

    (Anh H, chị L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 11/7/2023 Quỹ tín dụng nhân dân thành phố Gò Công (gọi tắt là Quỹ tín dụng) và anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh L ký hợp đồng tín dụng số TG020510963, theo đó Quỹ tín dụng cho anh chị vay số tiền 22.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ: vốn, lãi trả hàng tháng, mỗi kỳ là 2.034.600 đồng; lãi suất trong hạn 19,95%/năm, lãi quá hạn gấp 1,5 lần lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm, điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng; mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo.

Sau khi vay anh H, chị L chỉ trả được cho Q tín dụng 7 kỳ vào ngày 29/02/2024 thì ngưng không trả tiếp cho đến nay. Như vậy, đến ngày 29/02/2024 chị L, anh H đã thanh toán cho Q tín dụng tổng cộng tiền số tiền vốn là 11.435.800 đồng, tiền lãi là 1.981.800 đồng, còn nợ lại Quỹ tín dụng số tiền vốn là 10.564.200 đồng và lãi theo hợp đồng tạm tính đến ngày 18/3/2025 là 3.473.100 đồng.

Do quyền lợi bị xâm phạm nên Quỹ tín dụng yêu cầu chị L, anh H trả số tiền là 14.037.300 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Sau ngày 18/3/2025 nếu chị L, anh H chậm thanh toán còn phải trả thêm tiền lãi và lãi chậm trả phát sinh của hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Thanh L vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại phường B, thành phố G nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện anh H, chị L để tranh chấp tiền nợ vay. Căn cứ vào Điều 463 Bộ luật Dân sự nên quan hệ pháp luật là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.

[3]. Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn chị L, anh H vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[4]. Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Quỹ tín dụng nhân dân thành phố Gò Công yêu cầu chị L, anh H phải trả số tiền vốn 10.564.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 18/3/2025 là 3.473.100 đồng, tổng cộng vốn và lãi phải trả là 14.037.300 đồng, trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy giao dịch vay tiền giữa Quỹ tín dụng và chị L, anh H là có thật, thể hiện vào hợp đồng tín dụng số TG020510963 ngày 11/7/2023 mà hai bên đã ký kết. Theo hợp đồng hai bên đã giao kết, chị L, anh H vay số tiền là 22.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ: vốn, lãi trả hàng tháng, mỗi kỳ là 2.034.600 đồng; lãi suất trong hạn 19,95%/năm, lãi quá hạn gấp 1,5 lần lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm, điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng; mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên sau khi vay chị L, anh H chỉ trả được cho Q tín dụng 7 kỳ vào ngày 29/02/2024 với số tiền vốn là 11.435.800 đồng, tiền lãi là 1.981.800 đồng thì ngưng không trả nợ tiếp tục cho Q tín dụng. Do đó, chị L, anh H là người vi phạm nghĩa vụ phải thanh toán nợ hàng tháng theo thỏa thuận cho Quỹ tín dụng, vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự, cho nên Quỹ tín dụng khởi kiện chị L, anh H để yêu cầu trả hết số nợ vốn và lãi 14.037.300 đồng là có cơ sở.

Bị đơn chị L, anh H đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nhưng anh và chị vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản đối gì đến yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng. Như vậy chị L, anh H đã thừa nhận còn nợ và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng. Việc cố tình vắng mặt là nhằm kéo dài thời gian trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân thành phố G là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

[5]. Về án phí: Chị L, anh H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân thành phố G.

Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Thanh L phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân thành phố Gò Công tổng cộng số tiền nợ là 14.037.300 đồng, thời gian trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 19/3/2025, chị L, anh H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số TG020510963 ngày 11/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Quỹ tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Q tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Q tín dụng cho vay.

2. Về án phí:

- Buộc anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 701.865 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- H1 lại cho cho Quỹ tín dụng nhân dân thành phố Gò Công số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 303.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000989 ngày 04 tháng 10 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TG;
  • - VKSND TPGC;
  • - Chi cục THADS TPGC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thưa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/DS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 48/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 11/7/2023 Quỹ tín dụng nhân dân thành phố Gò Công (gọi tắt là Quỹ tín dụng) và anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Thanh L ký hợp đồng tín dụng số TG020510963, theo đó Quỹ tín dụng cho anh chị vay số tiền 22.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; phương thức trả nợ: vốn, lãi trả hàng tháng, mỗi kỳ là 2.034.600 đồng; lãi suất trong hạn 19,95%/năm, lãi quá hạn gấp 1,5 lần lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm, điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng; mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger