Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/DS-ST

Ngày: 19/3/2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
  2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Dung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 667/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị L, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1982 (Có mặt).

Địa chỉ: Số B, đường T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 23/6/2022).

- Bị đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1974 (Có mặt).

Địa chỉ: Số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1968 (Có mặt).
  2. Địa chỉ: Số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  3. Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ (Đề nghị xét xử vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

  5. Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C) – (Đề nghị xét xử vắng mặt).
  6. Địa chỉ: Số 1, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị L1 trình bày:

Vào năm 2002, bà Lâm Thị L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn H với diện tích 675m², thuộc thửa 192, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1936.QSDĐ do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 06/10/1994. Bà Lâm Thị L với ông Phạm Văn H có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5632/TT.ĐC.2002 được Ủy ban nhân dân xã A xác nhận ngày 08/10/2002. Sau khi đo đạc lại diện tích đất của bà L giảm còn 514,56m² và được Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 07042.QSDĐ cấp ngày 27/12/2002.

Tuy nhiên, hiện tại quyền sử dụng đất của bà L bị giảm rất nhiều so với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Bà L nhiều lần khiếu nại thì được Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ trả lời về việc diện tích đất giảm là do quyền sử dụng đất của bà L bị chồng lấn với thửa đất số 170 do bà Lê Thị P đứng tên. Đối với phần diện tích đất tranh chấp do trước đây là đất trống nên bà L không biết việc quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M và sau này cấp cho bà P. Đến thời điểm trên phần diện tích đất tranh chấp được xây phần gạch, bà L mới khiếu nại đến Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ thì được biết đất đã được cấp cho bà P. Bà L không biết gì về việc được cấp giấy của bà M và bà P và cũng không ký xác định ranh đất.

Vì vậy, bà Lâm Thị L khởi kiện yêu cầu công nhận phần diện tích khoảng 150m² đất do bà Lê Thị P đang quản lý, sử dụng là quyền sử dụng đất hợp pháp của bà L, thuộc thửa 169 tờ bản đồ số 30, diện tích 514,56m², tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 07042.QSDĐ do Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cần Thơ (cũ) ngày 25/12/2002 cấp cho bà Lâm Thị L. Quyền sử dụng đất bà L có được do nhận chuyển nhượng hợp pháp từ ông Phạm Văn H. Đồng thời, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà Lê Thị P ngày 25/12/2017 do có sự chồng lấn lên phần diện tích đất của bà Lâm Thị L.

* Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bị đơn bà Lê Thị Phương trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ quyền sử dụng đất diện tích 123m² (Loại đất: ODT), thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ có nguồn gốc do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng từ bà Đỗ Thị Bạch M, ông Nguyễn T, ông Nguyễn Hùng T1 và ông Nguyễn Hùng T2 vào năm 2017 với giá 710.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C (Số C, quyển số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/11/2017). Khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng thửa đất này đã có trụ ranh cụ thể, không có tranh chấp. Sau khi thanh toán tiền đầy đủ cho gia đình bà M thì vợ chồng bà trực tiếp sử dụng cho đến thời điểm hiện tại. Đồng thời, bà đã thực hiện thủ tục đăng ký sang tên, được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 637199 (Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS18734) cho bà Lê Thị P ngày 25/12/2017.

Ngoài ra, trước khi nhận chuyển nhượng vợ chồng bà đã mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà M đến Ủy ban nhân dân phường A để hỏi phần đất này có tranh chấp hay không thì được trả lời không có tranh chấp nên vợ chồng bà mới đồng ý nhận chuyển nhượng. Phần đất nhận chuyển nhượng có chồng lấn hay không thì vợ chồng bà không biết và nếu có là lỗi thuộc cơ quan chuyên môn, không phải lỗi của vợ chồng bà, bà đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp nên đề nghị Tòa án không chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị L.

* Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc V trình bày: Thống nhất với trình bày của bà Lê Thị P, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị L1 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận cho bà Lâm Thị L quyền sử dụng đất diện tích 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà Lê Thị P ngày 25/12/2017 vì đã cấp chồng lên phần đất của bà Lâm Thị L. Đồng thời, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Lê Thị P.

- Bị đơn bà Lê Thị Phương trình B: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì diện tích đất 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30 do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng hợp pháp từ gia đình bà Đỗ Thị Bạch M và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) ngày 25/12/2017 theo đúng quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc V trình bày: Thống nhất với trình bày của bà Lê Thị P, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị L.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, việc xác định tư cách tố tụng là phù hợp.

- Về nội dung: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị L về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà Lê Thị P ngày 25/12/2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Lâm Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho bà quyền sử dụng đất diện tích 123m² đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bị đơn bà Lê Thị P. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân quận N và Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Theo đơn khởi kiện bà Lâm Thị L yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 25/12/2017 cho bà Lê Thị P. Tại Mục 2 Phần II Hướng dẫn nghiệp vụ số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn “...việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; ...cho nên khi giải quyết các tranh chấp... không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng”. Xét việc bà Lê Thị P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là dựa trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Đỗ Thị Bạch M, không phải là cấp lần đầu. Đối chiếu với hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà Lâm Thị L không phải là yêu cầu khởi kiện trong vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án sẽ tiến hành kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

[1.4] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án triệu tập Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi lẽ, việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C. Hơn nữa, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án làm rõ Bản trích đo địa chính số 795/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C với Bản trích đo địa chính số: 33/TTKTTNMT ngày 20/5/2019 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thì bản trích đo nào đúng là không cần thiết. Vì Bản trích đo địa chính số: 33/TTKTTNMT ngày 20/5/2019 không liên quan đến vụ án cũng như căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở chứng minh sự thật khách quan của vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quyền sử dụng đất diện tích 514,56m², thửa 169, tờ bản đồ số 30 của bà Lâm Thị L với phần đất diện tích 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30 có cùng nguồn gốc thuộc thửa 192, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.625m² của ông Phạm Văn H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 467701 (Số vào sổ cấp GCN: 1936.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 06/10/1994.

Năm 2001, ông Phạm Văn H, bà Ung Thị S chuyển nhượng một phần đất diện tích thửa 192 (thửa mới 102) cho bà Đỗ Thị Bạch M, ông Nguyễn Thích V1 diện tích 818m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05153.QSDĐ do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 11/12/2001.

Năm 2002, ông Phạm Văn H, bà Ung Thị S chuyển nhượng một phần diện tích thửa 192 (thửa mới 170) cho bà Đỗ Thị Bạch M, ông Nguyễn Thích T3 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5631/TT.ĐC.2002 được Ủy ban nhân dân xã A xác nhận ngày 11/10/2002. Sau khi đo đạc xác nhận diện tích chuyển nhượng 123m² được Ban địa chính thành phố Cần Thơ xác nhận ngày 03 tháng 12 năm 2002 và được Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 07041.QSDĐ do cấp ngày 27/12/2002.

Năm 2002, ông Phạm Văn H chuyển nhượng hết phần diện tích còn lại thửa 192 (thửa mới 169) là 675m² cho bà Lâm Thị L theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5632/TT.ĐC.2002 được Ủy ban nhân dân xã A xác nhận ngày 08 tháng 10 năm 2002. Tuy nhiên, sau khi đo đạc thực tế diện tích giảm còn 514,56m² được Ban địa chính thành phố Cần Thơ xác nhận ngày 03 tháng 12 năm 2002 và được Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 07042.QSDĐ cấp ngày 27/12/2002.

Năm 2017, hộ bà M gồm: Bà Đỗ Thị Bạch M, ông Nguyễn T, ông Nguyễn Hùng T1, ông Nguyễn Hùng T2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị P toàn bộ diện tích 123m², thửa 170, tờ bản đồ số 30, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C (Số C, quyển số 01/2017/TP/CC-SCC/HĐGD). Bà Lê Thị P được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) ngày 25/12/2017.

Từ những tình tiết nêu trên cho thấy việc Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) thực hiện thủ tục tách thửa cấp diện tích 514,56m², thửa 169, tờ bản đồ số 30 cho bà Lâm Thị L với diện tích 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30 cho bà Đỗ Thị Bạch M là cùng thời điểm. Ban địa chính thành phố Cần Thơ tiến hành đo đạc, thẩm tra xác minh 02 thửa đất cùng ngày 24/10/2002 (BL 62, 94) và xác nhận trên hợp đồng chuyển nhượng cùng ngày 03/12/2002 (BL 67, 102). Do đó, việc nguyên đơn bà Lâm Thị L cho rằng Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị P tại thửa 170 đã chồng lên thửa 169 của bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa có cơ sở.

[2.2] Ngoài ra, việc nguyên đơn cho rằng theo Công văn số 1595/UBND-BTCD ngày 27/4/2021 của Ủy ban nhân dân quận N đã xác định thửa đất 169 của bà Lâm Thị L bị chồng lấn bởi thửa 170 do bà Lê Thị P là không đúng. Bởi lẽ, qua xem xét toàn bộ nội dung của Công văn số 1595/UBND-BTCD ngày 27/4/2021 của Ủy ban nhân dân quận N (BL 12, 13) chỉ có nội dung “Từ cơ sở trên, nhận thấy thửa đất số 169 của bà Lâm Thị L và thửa đất số 170 của bà Đỗ Thị Bạch M đều có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn H được tách từ thửa đất gốc 192 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời điểm. Các bên liên quan đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà Đỗ Thị Bạch M đã lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất” mà không có bất kỳ nội dung nào cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị P là chồng lấn lên thửa 169 của nguyên đơn.

[2.3] Hơn nữa, theo Bản trích đo địa chính số: 795/VPĐKĐĐ ngày 27/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C thể hiện bị đơn bà Lê Thị P đã sử dụng đúng diện tích 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30 đã được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 25/12/2017. Ngược lại, phần quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Lâm Thị L thể hiện phần ranh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có phát sinh chồng lấn với thửa 170, tờ bản đồ số 30 của bị đơn bà Lê Thị P.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị L là không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 7.198.000 đồng, đã nộp tạm ứng và chi xong.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn bà Lâm Thị L phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000 đồng.

[5] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Từ những phân tích nêu trên đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 5, 7 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị L về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 123m², thuộc thửa 170, tờ bản đồ số 30, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CK 637199 (Số vào sổ cấp GCN: CS 18734) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà Lê Thị P ngày 25/12/2017.
  2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn phải chịu 7.198.000 đồng (Bảy triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng), đã nộp tạm ứng và chi xong nên không phải nộp thêm.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lâm Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000880 ngày 31/3/2023, được nhận lại số tiền 937.500 đồng (Chín trăm ba mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.NK;
  • - Chi cục THADS Q.NK;
  • - TAND TP.CT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Hứng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/DS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 48/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger