TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/DS-PT
Ngày 20/02/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha
Bà Nguyễn Thị Nhiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 157/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đỗ Minh Đ, sinh năm 1952 (có mặt) và bà Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 1959 (có mặt).
Địa chỉ: 34 B Đ, Phường V, TP R, tỉnh Kiên Giang.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ là: Bà Vũ Thị L, Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).
* Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1962 (có mặt) và ông Đỗ Tấn N, sinh năm 1959 (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị C, ông Đỗ Tấn N là: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1984. (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Đỗ Tấn N là:
Luật sư Phạm Anh V - Đoàn luật sư tỉnh K. (có mặt)
Luật sư Trần Hữu P Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đỗ Phương T, sinh năm 1992; (vắng mặt)
- - Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1988; (vắng mặt)
- - Anh Đỗ Tấn P1, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- - Chị Trần Thị L1, sinh năm 1984; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh T, chị N1, anh P1, chị L1 là: Ông Đỗ Tấn N, sinh năm 1959, địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)
- Ngân hàng N4 - Chi nhánh huyện A. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Tấn N, bà Trần Kim C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ, bà Trần Thị Ngọc Ầ trình bày:
Nguồn gốc diện tích tranh chấp là 05 công tầm 3 mét (6.480 m²) kể cả đường hành lang ven biển phía Nam là của cha mẹ ông Đức T1 cho vợ chồng ông Đ, bà Ầ vào trước năm 1980 ông, bà nhận đất và trực tiếp sản xuất trên diện tích 05 công đất này đến cuối năm 1983 thì không tiếp tục canh tác đất. Lý do là ông Đ bị tai nạn giao thông gãy chân và ông Đ đang công tác tại Ủy ban nhân dân tỉnh K nên ông Đ gửi đất lại cho ông B1, bà N2 và nói: “Cho mấy đứa em nó làm, đông lúa cho ba má ăn”. Tức là từ năm 1984 đến nay ông Đ, bà Ầ không trực tiếp quản lý sử dụng diện tích đất này với lý do là vào khoảng năm 1993, ông Đỗ Tấn B1 có nhờ ông N đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất cho ông B1, ông Đ và ông N. Trong đó diện tích đất của ông Đ, ông N mỗi người là 05 công tầm 03 mét, nhưng ông N chỉ kê khai cho ông B1 và ông N, cụ thể là ông N kê khai cả diện tích đất của ông Đ cho ông N và ông N được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông B1 không đồng ý, khi đó ông N nói: Khi nào ông Đ sử dụng đất thì ông N tách giấy trả lại cho ông Đ và hẹn đến năm 2010 tách giấy và
trả lại đất cho ông Đ nhưng đến năm 2010 ông N không thực hiện nên phát sinh tranh chấp đến nay.
Ông Đ, bà Ầ yêu cầu: Ông N, bà C1 cùng với anh T, chị N1 trả lại cho ông Đ, bà Ầ diện tích 05 công đất tầm 03 mét có chiều ngang là 19,5 mét, chiều dài là 332,3 mét (chưa trừ đường hành lang ven biển phía nam), phía giáp ông Đỗ Thanh P2 đo qua; yêu cầu vợ chồng ông N tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất trả lại quyền sử dụng đất cho ông bà, ông bà không hỗ trợ di dời.
Tại phiên tòa, Ông Đ, bà Ầ yêu cầu ông N, bà C1 cùng với anh T, chị N1 trả lại cho ông Đ, bà Ầ diện tích 05 công dất tầm 03 mét có chiều ngang giáp Kênh Đầu Ngàn là 19,5 mét, chiều dài là 332,3 mét (chưa trừ đường hành lang ven biển phía nam), phía giáp ông Đỗ Thanh P2 đo qua; yêu cầu vợ chồng ông N tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất trả lại quyền sử dụng đất cho ông bà, ông bà không hỗ trợ di dời.
Tại phiên họp hòa giải và các lời khai tại Tòa án bị đơn ông Đỗ Tấn N trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp này là của cha mẹ cho anh Đ vào trước năm 1979 nhưng anh Đ không sử dụng, khai phá. Năm 1979 ông khai phá sử dụng đến năm 1985 - 1986 Nhà nước cấp thêm 05 công liền kề với đất của ông, khoảng năm 1993 có đoàn đo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến địa phương nên ông kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông sử dụng đất liên tục đến ngày 24/7/2011 thì phát sinh tranh chấp; năm 2017 ông lập thủ tục tặng cho con ruột Đỗ Phương T, ngày 21/12/2017 Sở tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Đỗ Phương T diện tích 5.335,1 m² theo giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CL 963381, diện tích đất còn lại 13.097,9 m² cấp lại cho ông đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CL 963382. Trên diện tích đất tranh chấp này ông có xây dựng nhà ở và trồng cây lâu năm, ngoài ra còn sử dụng vào mục đích nuôi tôm, cua và trồng lúa nước hàng năm; vợ chồng Đỗ Phương T sử dụng diện tích 5.335,1 m².
Ông không chấp nhận yêu cầu của ông Đ, bà Ẩ; trường hợp Tòa án xét xử buộc vợ chồng ông trả đất cho ông Đ thì ông tự tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất, không yêu cầu gì đối với ông Đ, bà Ẩ.
Bản án dân sự sơ thẩm số 86/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Tấn N và anh Đỗ Phương T, chứng thực ngày 05/9/2017 là vô hiệu.
Buộc ông Đỗ Tấn N, bà Trần Kim C1 di dời nhà ở, vật kiến trúc và các loại cây trồng, cùng với anh Đỗ Phương T, chị Nguyễn Thị N1 giao trả quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Minh Đ, bà Trần Thị Ngọc Ầ diện tích đất tranh chấp diện tích 5.888,3 m² và được sử dụng diện tích đất hành lang giao thông của đường hành lang ven biển phía nam theo quy định của pháp luật, vị trí: Hướng đông nam giáp Kênh đầu ngàn điểm 10-11 là 19,6 mét, hướng đông bắc giáp đất ông Nguyễn Thanh P3 điểm 1’- 2-3 và điểm 7-8-9-10 = 309,17 mét; hướng tây bắc giáp đất ông Đỗ Tấn N tặng cho anh Đỗ Phương T điểm 1'-6' = 19,27 mét; hướng tây nam giáp đất ông Đỗ Tấn N điểm 6’-5-4 và điểm 14-1312-11 = 309,34 mét
Phần đất tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
(Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các điểm giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 148-2022 ngày 27/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A).
Ông Đỗ Tấn N, bà Trần Kim C1 được lưu cư thời hạn là 12 tháng, kể từ ngày 26/9/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 05/10/2023 và đơn kháng cáo bổ sung ngày 9/10/2023 bị đơn bà Trần Kim C1, ông Đỗ Tấn N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị tòa phúc thẩm xử hủy bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự không tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ là bà Vũ Thị L ý kiến:
Khẳng định yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ: Qua xác minh thu thập chứng cứ và căn cứ vào các lời khai đã được xác nhận trong các biên bản lấy lời khai và tường trình gửi đến Tòa án thì nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ (cụ B1 và cụ N2) cho ông Đ. Khi cho có xác định vị trí và diện tích. Đây là tình tiết không cần chứng minh.
Việc cụ B1 và Cụ N2 tặng cho ông Đ 05 công đất là hoàn toàn phù hợp, bởi vì đất của cụ B1 có từ thời ông bà để lại cho cụ B1 sau đó cụ B1 phân chia cho các
con không ai có ý kiến phản đối gì. Năm 1993 Nhà nước có chủ trương kê khai đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị đơn đã kê khai phần đất của nguyên đơn, khi biết sự việc cụ B1 có kêu ông N trả lại đất cho ông Đ, ông N hứa đến 2010 trả nhưng đến thời hạn ông N không trả cho nên cụ B1 đã làm đơn yêu cầu gửi rất nhiều nơi. Do đó xác định phần đất đang tranh chấp khi còn sống cụ B1 đã xác định là đã cho ông Đ và cụ không đồng ý để ông N đứng tên phần đất này.
Tại Công văn số 353/UBND huyện A“việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đỗ Tấn N được thực hiện theo trình tự cấp tự kê khai do người sử dụng đất tự kê khai, không đo đạc thực tế... Như vậy đất ông được cấp giấy là do ông tự kê khai.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn diện tích theo Tờ trích đo địa chính số: TD 148 -2022 (12,13-3) ngày 27/9/2022 (diện tích 5.897,2 m²). Buộc ông N di dời nhà cửa, công trình kiến trúc và tất cả các cây cối trên đất. Nguyên đơn không hỗ trợ chi phí di dời.
Tại phiên tòa, bị đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp này là do tập đoàn cấp cho 05 khẩu gồm vợ chồng và 03 người con của bị đơn, nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông không chấp nhận yêu cầu của ông Đ, bà Ẩ; trường hợp Tòa án xét xử buộc vợ chồng ông trả đất cho ông Đ thì ông tự tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất, không yêu cầu gì đối với ông Đ, bà Ẩ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Đỗ Tấn N, luật sư Trần Hữu P, và Luật sư Phạm Anh V ý kiến:
Việc cấp giấy vào thời điểm năm 1993, thủ tục huyện không làm, mà tỉnh làm. Đất không thể cấp cho hai người. Người được giao quyền sử dụng mới có quyền chia cho các con. Diện tích lớn, nhỏ so với thực tế là do sơ đồ 14 đo không chính xác do không có tọa độ. Đo đi đo lại nên không chính xác, bị đơn đã sử dụng đất ổn định, liên tục ngay tình. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Nguyên đơn có đặt ra vấn đề vị trí đất, khi cụ B1 cho ông Đ có ranh giới rõ ràng là không chính xác, không đúng thực tế vì nếu như rõ ràng thì tại sao khi đo đạc diện tích tranh chấp nguyên đơn chỉ đến 7.235,8 m² điều đó chính Nguyên đơn không biết vị trí đất như thế nào. Bị đơn đã sử dụng đất ổn định, liên tục ngay tình, Không thể dựa vào lời khai người làm chứng, mà phải dựa vào cơ quan có thẩm quyền cấp giấy. Năm 2002 bị đơn xây dựng nhà nhưng nguyên đơn không có ý
kiến, tranh chấp là do làm con lộ giá trị đất tăng lên. Nguyên đơn chỉ dựa vào biên bản hợp gia tộc nhưng biên bản hợp gia tộc là không có giá trị pháp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Tòa sơ thẩm vi phạm về tố tụng như giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, đưa thiếu người tham gia tố tụng, tuyên buộc di dời cây trồng trả đất bản án khó thi hành. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS hủy án sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; lời trình bày của người đại diện cho bà C1, ông N, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm. Xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ, bà Trần Thị Ngọc Ầ yêu cầu bị đơn bà Trần Thị C, ông Đỗ Tấn N trả lại quyền sử dụng đất. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp quy định của pháp luật.
[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Phương T, (vắng mặt). Chị Nguyễn Thị N1, (vắng mặt). Anh Đỗ Tấn P1, (vắng mặt). Chị Trần Thị L1, (vắng mặt). Có văn bản ủy quyền cho ông Đỗ Tấn N tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 01/8/2019. Ngân hàng N4 - Chính nhánh huyện A (có đơn xin vắng mặt).
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Nguyên đơn ông Đỗ Tấn Đ1, bà Trần Thị Ngọc Ầ yêu cầu: Ông N, bà C cùng với anh T, chị N1 trả lại cho ông Đ1, bà Ầ diện tích 05 công dất tầm 03 mét có chiều ngang giáp Kênh Đầu Ngàn là 19,5 mét, chiều dài là 332,3 mét (chưa trừ
đường hành lang ven biển phía nam), phía giáp ông Đỗ Thanh P2 đo qua; yêu cầu vợ chồng ông N tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất trả lại quyền sử dụng đất cho ông bà, ông bà không hỗ trợ di dời.
[2.2] Bị đơn bà Trần Thị C, ông Đỗ Tấn N có yêu cầu: Diện tích đất tranh chấp là do tập đoàn cấp cho 05 khẩu gồm vợ chồng và 03 người con của bị đơn, nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông không chấp nhận yêu cầu của ông Đ1, bà Ẩ; trường hợp Tòa án xét xử buộc vợ chồng ông trả đất cho ông Đ1 thì ông tự tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất, không yêu cầu gì đối với ông Đ1, bà Ẩ.
[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ, bà Trần Thị Ngọc Ẩ:
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ (cụ B1 và cụ N2) cho ông Đ vào năm 1980. Khi cho có xác định vị trí và diện tích. Năm 1983 thì ông Đ không tiếp tục sử dụng mà gửi đất lại cho cụ B1, cụ N2 quản lý, nên cụ B1, cụ N2 cho vợ chồng ông N, bà C mượn canh tác đến năm 1993 thì có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc này ông N kê khai đăng ký diện tích đất của ông Đ, bà Ẩ được cụ B1, cụ N2 tặng cho và một phần diện tích đất của cụ B1, cụ N2. Ông N được cấp tổng diện tích là 22.686 m² và ông N, bà C sử dụng đến năm 2011 thì phát sinh tranh chấp. Sự việc cụ B1 gửi đơn yêu cầu đến nhiều cơ quan chức năng yêu cầu ông N trả lại 05 công đất cho cụ giao trả lại cho ông Đ, đã được ấp, xã tiến hành hòa giải nhưng không thành, đồng thời cụ B1 gửi đơn khởi kiện đến Tòa án huyện An Minh nhiều lần và nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng cấp Tỉnh, Tòa án T2 và Trung ương. Ngoài ra, tại đơn xin xác nhận của cụ B1, cụ N2 ngày 23/5/2017 về nội dung: Ông N nói là đến năm 2010 ông N trả đất lại cho cụ B1 và ông Đ, nội dung này được chị và em ruột của ông N xác nhận (BL 118; 291); tại tờ tường trình ngày 20/6/2020 của bà Đỗ Thị H và biên bản lấy lời khai ngày 09/3/2022 của Tòa án đối với bà Đỗ Thị H, bà H xác định là vào khoảng năm 1979 cụ B1 có cho ông Đ 05 công đất tầm 03 mét và ông N có hứa là đến năm 2010 ông N trả đất lại cho ông Đ (BL 298, 369).
Tại tờ tường trình ngày 10/7/2018 ông N thừa nhận là vào năm 1979 cụ B1, cụ N2 có tặng cho ông và ông Đ mỗi người 05 công đất trồng lúa, tính từ lung đến Kênh Đ, mỗi người một bên. Khoảng năm 2002 - 2003 cụ B1 lấy 05 công đất đã tặng cho ông Đ, bà Ầ đổi lấy một nền nhà của ông N, bà C để chuyển nhượng cho người khác.
Tại biên bản họp gia tộc “ Về việc ủy quyền thừa kế đất đai cho các con” ngày 09/11/2010 có mặt ông N thừa nhận phần đất tranh chấp chia cho ông Đ.
Tại Công văn số 353/UBND huyện A“việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đỗ Tấn N được thực hiện theo trình tự cấp tự kê khai do người sử dụng đất tự kê khai, không đo đạc thực tế....”
Từ những chứng cứ Toà sơ thẩm thu thập có trong hồ sơ đủ căn cứ pháp lý xác định diện tích đất tranh chấp 5.888,3 m² hiện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N (Đánh biến động sang tên cho anh T, chị N1) là phần đất cụ B1 cho ông Đ do ông N tự kê khai. Do đó Toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ là có căn cứ.
Tuy nhiên Tòa sơ thẩm giải quyết vụ án đã vi phạm tố tụng:
- Vi phạm tuyên thiếu người liên quan:
Phần đất tranh chấp Ông Nghiêm sử từ năm 1983 đến nay cất nhà đầu tư trên đất thể hiện trên chứng thư thẩm định giá số: 69/CT-KGGL ngày 20/9/2023 của Công ty TNHH MTV B2 thì nhà ở, mái che phía trước, mái che phía sau, mái che bên hông, nhà vệ sinh, trại để vỏ, nhà cây nước, sân xi măng phía trước, đường bê tông, có tổng giá trị là 118.962.000 đồng; các loại cây trồng gồm cây đinh lăng, cây bưởi, cây nguyệt quế, xoài, dừa, ỏi, mít, mai trắng, mai vàng bông trang, bông giấy, vú sữa và cây chanh, có tổng giá trị là 64.924.000 đồng. Và chứng thư thẩm định giá số: 24/12/151/CT-ĐG-TVAP ngày 12/12/2024 của Công ty TNHH Đ3 nhà ở, mái che phía trước, mái che phía sau, mái che bên hông, nhà vệ sinh, trại để vỏ, nhà cây nước, sân xi măng phía trước, đường bê tông, (Tòa sơ thẩm không thẩm định Kho giấy diện tích 74,8m², chuồng Gà diện tích 11,7m², trụ Điện trị giá 2.640.000đ, Giếng khoan trị giá 2.153.400đ). Có tổng giá trị là 259.135.000 đồng; các loại cây trồng gồm cây đinh lăng, cây bưởi, cây nguyệt quế, xoài, dừa, ỏi, mít, mai trắng, mai vàng bông trang, bông giấy, vú sữa và cây chanh, có tổng giá trị là 62.295.000 đồng. Giá trị quyền sử dụng đất 2.549.566.000 đồng. Trên đất tranh chấp có nhà và tài sản của gia đình chị Đỗ Thị B đang quản lý sử dụng.
Tòa sơ thẩm tuyên buộc gia đình ông N, anh T di dời nhà ở, vật kiến trúc và các loại cây trồng giao trả đất nhưng không tuyên cụ thể gia đình ông N, gia đình anh T phải di dời nhà và các loại tài sản nào thuộc quyền sở hữu của ông N, anh T để giao trả đất. Mặc khác Tòa sơ thẩm không giải quyết căn nhà (kho giấy diện tích 74,8m²) là tài sản của gia đình chị B đang tồn tại trên đất dẫn đến bản án sẽ
không thi hành được. Quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bị xâm hại nhưng không được giải quyết.
- Vi phạm tuyên vượt quá yêu cầu khởi kiện:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn dỡ nhà trả đất diện tích 5.888,3 m², không tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhưng Tòa sơ thẩm giải quyết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Tấn N và anh Đỗ Phương T, chứng thực ngày 05/9/2017 tuyên vô hiệu. Là vi phạm Điều 5 BLTTDS.
- Vi phạm thu thập chứng cứ không đầy đủ:
Trên phần đất tranh chấp hiện tại có 01 căn nhà ngoài vợ chồng ông N, bà C và vợ chồng anh T, chị N1 đang quản lý sử dụng còn có những người đang sinh sống trong căn nhà này như: Anh Lê Bảo Đ2, chị Đỗ Thị B, cháu Lê Minh Q nhưng Tòa sơ thẩm không thông báo cho những người này tham gia tố tụng là vi phạm được quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. mặc khác trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn ông Đ, bà Ầ tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng Tòa sơ thẩm không tiến hành định giá và giải quyết hậu quả là không triệt để, làm ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của bị đơn, người liên quan. Trong phần quyết định của bản án không tuyên buộc những người đang ở trên đất giao trả đất, củng như xử lý giá tri quyền sử dụng đất, cây trồng, vật kiến trúc trên đất nên bản án sẽ không thi hành được.
[3.2] Đối với kháng cáo của ông Đỗ Tấn N, bà Trần Thị C yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 86/2023/ DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh. Thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ và không đưa người liên quan tham gia tố tụng. Xét thấy cần phải xác minh làm rỏ các vấn đề trên. Nên kháng cáo của ông N, bà C là có cơ sở chấp nhận.
Tuy nhiên phần thiếu sót không đưa người có quyền lợi liên quan tham gia tố tụng, không định giá đất, không tuyên dỡ hai căn nhà của chị B của Tòa sơ thẩm có phần lỗi của bị đơn, người liên quan do tại biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 10/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện An Minh không có căn nhà của chị B và gia đình bị đơn không yêu cầu nguyên đơn bồi thường vật kiến trúc, cây trồng trên đất đồng ý tự tháo dỡ. Nên Tòa sơ thẩm không tiến hành định giá. Không biết có căn nhà của chị B trong quá trình Toà sơ thẩm giải quyết gia đình ông N, bà C không hợp tác, gây khó khăn trong quá trình thu thập chứng cứ.
Xét thấy những sai sót nêu trên của cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Do vậy qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Tấn N, bà Trần Thị C. Hủy bản án sơ thẩm dân sự sơ thẩm số: 86/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh.
[4]. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Được xác định khi vụ án đưa ra giải quyết lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông N, bà C không phải chịu.
[5]. Về chi phí chi phí tố tụng khác: Được xác định khi vụ án đưa ra giải quyết lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Đỗ Minh Đ, bà Trần Thị Ngọc Ầ với bị đơn ông Đỗ Tấn N, bà Trần Thị C.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Được xác định khi vụ án đưa ra giải quyết lại.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông N, bà C không phải chịu.
- Về chi phí chi phí tố tụng khác: Được xác định khi vụ án đưa ra giải quyết lại.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
Bản án số 48/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 48/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ồng Đ, bà Á yêu cầu: Ồng N, bà C1 cùng với anh T, chị NI trả lại cho ông Đ, bà Á diện tích 05 công đất tầm 03 mét có chiều ngang là 19,5 mét, chiều dài là 332,3 mét (chưa trừ đường hành lang ven biển phía nam), phía giáp ông Đỗ Thanh P2 đo qua; yêu cầu vợ chồng ông N tháo dở nhà, di dời các loại cây trồng, vật kiến trúc có trên đất trả lại quyền sử dụng đất cho ông bà, ông bà không hỗ trợ di dời.
