TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/DS-PT
Ngày: 17 - 3 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường
Ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện H bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lý Quốc H1, sinh năm 1972
Bà Phạm Thị B1, sinh năm 1973
Cùng địa chỉ: Khu phố 6, thị trấn T1, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn:
- Bà Lê Thị Kim A1, sinh năm 1974
- Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1996
- Anh Nguyễn C, sinh năm 1996
Cùng địa chỉ: Khu phố 8, thị trấn T1, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Trần Thị Tr, sinh năm 1943
Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn T1, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1987
Địa chỉ: Tổ 2, thôn ĐT, xã Tân Hà, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị Kim A1.
Tại phiên toà, có mặt ông Lý Quốc H1, bà Phạm Thị B1, bà Lê Thị Kim A1 và bà Nguyễn Thị Kim Th; còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lý Quốc H1 và bà Phạm Thị B1 trình bày: Vào ngày 19/11/2021 (âm lịch), tức ngày 22/12/2021 (dương lịch), ông Nguyễn L1 và bà Lê Thị Kim A1 có vay của vợ chồng ông bà 600.000.000 đồng. Khi vay, vợ chồng ông L1, bà A1 nói cần tiền để đáo hạn ngân hàng và giải quyết chuyện gia đình nên chỉ vay trong thời gian vài ngày sẽ trả. Do đó, tại giấy vay mượn tiền thì vợ chồng ông bà không yêu cầu ghi thời hạn và lãi suất, vì mối quan hệ thân quen giữa hai gia đình. Tuy nhiên, từ khi vay tiền cho đến nay thì vợ chồng ông L1 và bà A1 chưa trả tiền cho vợ chồng ông bà.
Nay, ông Nguyễn L1 đã chết nên ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Kim A1 và những người đồng thừa kế của ông Nguyễn L1 là bà Trần Thị Tr, chị Nguyễn Thị Kim D và anh Nguyễn C có trách nhiệm liên đới trả cho vợ chồng ông bà 600.000.000 đồng tiền vay gốc và tiền lãi tạm tính từ ngày 22/12/2021 đến ngày 27/6/2024 là 150.833.333 đồng; Tổng số tiền gốc và lãi là 750.833.333 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu về tiền lãi, cụ thể: Yêu cầu buộc bà Lê Thị Kim A1 phải trả 600.000.000 đồng tiền vay gốc và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm; thời gian tính lãi từ ngày 23/12/2021 cho đến khi xét xử sơ thẩm. Do đó, số tiền lãi tạm tính từ ngày 23/12/2021 đến ngày 12/9/2024 (02 năm 8 tháng 19 ngày) là 163.166.667 đồng; Tổng số tiền gốc và lãi là 763.166.667 đồng nhưng nguyên đơn chỉ yêu cầu bà A1 phải trả số tiền gốc và lãi là 763.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị Kim A1 trình bày: Bà Lê Thị Kim A1 thừa nhận vợ chồng bà có vay của vợ chồng ông Lý Quốc H1 và bà Phạm Thị B1 600.000.000 đồng vào ngày 22/12/2021 (ngày 19/11/2021 âm lịch). Hàng tháng, bà A1 có trả lãi cho vợ chồng ông H1, bà B1 với số tiền 50.000.000 đồng/tháng.
Khi vay tiền thì hai bên không nói rõ mức lãi suất là bao nhiêu, mà chỉ nói tiền lãi là 50.000.000 đồng/tháng và bà A1 có trả tiền lãi hàng tháng cho đến khi ông L1 chết (ngày 02/01/2024) thì bà A1 không trả lãi nữa.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà A1 đồng ý trả số tiền vay gốc là 600.000.000 đồng cho ông H1, bà B1 với điều kiện là vợ chồng ông H1, bà B1 phải trả lại sổ đỏ cho con gái bà A1 là Nguyễn Thị Kim D. Riêng số tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu thì bà A1 đã trả lãi hàng tháng đến ngày 02/01/2024 (ông L1 chết) nên bà A1 chỉ đồng ý trả tiền lãi trong khoản thời gian từ ngày 02/01/2024 đến nay, không đồng ý trả tiền lãi trong khoản thời gian từ ngày 23/12/2021 đến ngày 02/01/2024.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:
Căn cứ vào: Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 và khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Lê Thị Kim A1 phải trả cho vợ chồng ông Lý Quốc H1 và bà Phạm Thị B1 số tiền vay là 600.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 23/12/2021 đến ngày 12/9/2024 là 163.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là 763.000.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận là 10%/năm.
- Về án phí: Bà Lê Thị Kim A1 phải chịu 34.520.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Lý Quốc H1 và bà Phạm Thị B1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.016.667 đồng theo Biên lai số 0010863 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/9/2024, bị đơn bà Lê Thị Kim A1 kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại khoản tiền lãi 163.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn bà Lê Thị Kim A1 thay đổi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, vì vợ chồng bà đã trả khoản nợ gốc 600.000.000 đồng cho vợ chồng ông H1, bà B1 thông qua bà Nguyễn Thị Kim Th, cụ thể là vợ chồng bà có chuyển nhượng cho bà Th một thửa đất và khi bà Th trả tiền nhận chuyển nhượng đất, vợ chồng bà đề nghị bà Th chuyển tiền vào tài khoản của con gái ruột của ông H1, bà B1 là bà Lý Thị Mỹ H3, với tổng số tiền cả gốc và lãi là 750.000.000 đồng vào các ngày 03, 05 và 11/01/2023.
- Nguyên đơn bà Phạm Thị B1 không thừa nhận có việc trả tiền như bà Lê Thị Kim A1 khai và cho rằng các khoản tiền bà Th chuyển cho con gái của bà B1 là do vợ chồng bà A1 nhờ tài khoản của con gái bà để bà Th chuyển tiền, số tiền này không lên quan đến khoản vay 600.000.000 đồng, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà A1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Kim Th khai nhận có chuyển khoản cho bà Lý Thị Mỹ H3 như lời khai của bà A1, nhưng bà Th không biết chuyển để trả khoản nợ nào.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Kim A1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện H và buộc bà Lê Thị Kim A1 chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, các bị đơn chị Nguyễn Thị Kim D, anh Nguyễn C và bà Trần Thị Tr đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tuy nhiên, việc xét xử phúc thẩm vụ án không ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng này và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án như đề nghị của những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa và Kiểm sát viên theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên và bị đơn đều thống nhất khai nhận: Vào ngày 19/11/2021 (âm lịch) tức ngày 22/12/2021 (dương lịch), vợ chồng ông Nguyễn L1, bà Lê Thị Kim A1 có vay của vợ chồng ông Lý Quốc H1, bà Phạm Thị B1 600.000.000 đồng, hai bên có làm giấy viết tay xác nhận khoản vay nhưng không ghi rõ lãi suất và thời hạn trả.
[2.2] Theo ông H1, bà B1 thì khi vay, hai bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, từ khi vay đến nay, vợ chồng ông L1, bà A1 không trả gốc cũng như khoản tiền lãi nào cho vợ chồng ông bà; còn bà A1 khai hai bên có thỏa thuận lãi suất là 50.000.000 đồng/tháng, từ khi vay ngày 22/12/2021 đến khi ông L1 chết ngày 02/01/2024, hàng tháng bà đều trả lãi cho vợ chồng ông H1, bà B1 50.000.000 đồng/tháng và đã trả đủ tiền gốc cho nguyên đơn, số tiền trả thể hiện thông qua tài khoản của bà Nguyễn Thị Kim Th chuyển vào tài khoản của con gái bà B1, ông H1 với tổng số tiền 750.000.000 đồng.
[2.3] Như vậy, có đủ cơ sở xác định giao dịch dân sự giữa hai bên là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Kim A1; Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Theo tài liệu do bà A1 cung cấp (Bản sao kê chi tiết giao dịch của khách hàng tên Nguyễn Thị Kim Th) thể hiện: Vào các ngày 03, 05 và 11/01/2023, bà Nguyễn Thị Kim Th đã chuyển vào tài khoản của bà Lý Thị Mỹ H3 (con gái của ông H1, bà B1) tổng cộng 750.000.000 đồng, với nội dung “chuyển tiền đất cho anh L1”, bà A1 cho rằng khoản tiền này là bà nhờ bà Th chuyển trả cho vợ chồng bà B1, ông H1 khoản nợ gốc 600.000.000 đồng và 150.000.000 đồng tiền lãi.
[3.2] Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ghi ngày 07/8/2024 (BL32), bà A1 khai: Ngày 31/8/2023, vợ chồng bà Phạm Thị B1 và ông Lý Quốc H1 đã xuống nhà hỏi tiền lại để trả cho bà H4 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) nhưng tôi chưa có tiền đưa. Ngoài ra, tại Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/8/2024 (BL 33), bà A1 khai: Trong thời điểm bà A1 mượn tiền bà B1 với số tiền 600.000.000 đồng thì bà A1 không còn mượn khoản tiền nào khác của bà B1.
[3.3] Như vậy, đủ cơ sở để khẳng định khoản tiền bà Nguyễn Thị Kim Th chuyển vào tài khoản của bà Lý Thị Mỹ H3 (con gái của ông H1, bà B1) tổng cộng 750.000.000 đồng không phải là khoản tiền 600.000.000 đồng mà vợ chồng bà B1, ông H1 cho vợ chồng bà A1 vay, vì nếu đã trả vào các ngày 03, 05 và 11/01/2023 thì không lý do gì đến ngày 31/8/2023, vợ chồng bà B1, ông H1 lại tiếp tục xuống nhà bà A1 để đòi nợ như bà A1 khai. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với lời khai của bà A1 trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà A1 đều thừa nhận hiện còn nợ vợ chồng ông H1, bà B1 600.000.000 đồng.
[3.4] Đối với khoản tiền lãi:
[3.4.1] Bà A1 khai từ khi vay ngày 22/12/2021 đến khi ông L1 chết ngày 02/01/2024, hàng tháng bà A1 đều trả lãi cho vợ chồng ông H1, bà B1 50.000.000 đồng/tháng, nhưng bà A1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh đã trả lãi cho ông H1, bà B1 50.000.000 đồng/tháng như lời khai của bà.
[3.4.2] Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Như vậy, hai bên thừa nhận việc vay tiền có lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất là bao nhiêu và có tranh chấp, nên vợ chồng ông H1, bà B1 yêu cầu bà A1 phải trả lãi theo mức lãi suất 10%/năm, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là đúng quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3.4.3] Về thời hạn tính lãi:
Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
“Điều 5. Xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015
Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 hoặc xác lập trước ngày 01-01-2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc).”
Và theo hướng dẫn tại điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
“Điều 6. Xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả
3. “Thời gian chậm trả” hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác định như sau:
a) ...;
c) Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc chưa trả bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc phía bị đơn trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi trên số nợ gốc 600.000.000 đồng với mức lãi suất 10%/năm, tính từ ngày 23/12/2021 dương lịch đến ngày xét xử sơ thẩm 12/9/2024 (02 năm 08 tháng 19 ngày), thành tiền 163.166.667 đồng (nguyên đơn yêu cầu làm tròn thành tiền 163.000.000 đồng) là hoàn toàn phù hợp với các quy định đã được viện dẫn trên.
[4] Về trách nhiệm trả nợ: Quá trình giải quyết vụ án, hai bên đều thừa nhận khoản vay 600.000.000 đồng là khoản nợ chung của vợ chồng bà Lê Thị Kim A1 và ông Nguyễn L1. Tại phiên tòa sơ thẩm, do ông Nguyễn L1 đã chết nên bà Lê Thị Kim A1 đồng ý một mình bà trả nợ, không liên quan đến bà Trần Thị Tr (mẹ ruột của ông Nguyễn L1) và các con của bà A1, ông L1; vấn đề này, ông Lý Quốc H1, bà Phạm Thị B1 đồng ý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc một mình bà Lê Thị Kim A1 trả nợ gốc và lãi cho vợ chồng ông H1, bà B1 là đúng quy định tại Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Từ nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bà Lê Thị Kim A1 là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Kim A1; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện H.
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370, Điều 463, khoản 5 Điều 466, Điều 468 và khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; điểm a khoản 2 Điều 5, điểm c khoản 3 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Quốc H1 và bà Phạm Thị B1: Buộc bà Lê Thị Kim A1 phải trả cho vợ chồng ông Lý Quốc H1 và bà Phạm Thị B1 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) tiền vay gốc và 163.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu đồng) tiền lãi tính từ ngày 23/12/2021 đến ngày 12/9/2024 ; Tổng cộng là 763.000.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi ba triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- - Hoàn trả lại cho ông Lý Quốc H1, bà Phạm Thị B1 17.016.667 đồng (Mười bảy triệu, không trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0010863 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
- - Buộc bà Lê Thị Kim A1 phải chịu 34.520.000 đồng (Ba mươi bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Buộc bà Lê Thị Kim A1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Lê Thị Kim A1 đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu số 0010901 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H; Bà Lê Thị Kim A1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/3/2025).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Đặng Văn Cường Nguyễn Văn Quản | Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 48/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 48/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Lý Quốc H1 - BĐ: Lê Thị Kim A1
