|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Bắc
Ông Quản Giang Thao
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/5/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Ngọc H, sinh năm 1998
HKTT: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Lê Quang V, sinh năm 1994
HKTT: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn chị Hoàng Thị Ngọc H trình bày:
Chị và anh Lê Quang V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường xã T1, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/10/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống không hợp nhau, thường xuyên xung đột cãi vã, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh V.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Quang Hoàng Q, sinh ngày 26/01/2018. Hiện nay cháu Q đang ở cùng chị, cháu mạnh khoẻ, phát triển tốt. Chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Q, chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện nay chị là lao động tự do, có sức khỏe tốt, thu nhập ổn định, chị khẳng định mình có đủ điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con tốt.
Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 17/6/2024 anh Lê Quang V trình bày như sau:
Về hôn nhân: Anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/10/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã và đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn để cả hai ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Quang Hoàng Q, sinh ngày 26/01/2018. Hiện nay cháu Q đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q vì cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ.
Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu toà án giải quyết.
Ngoài ra, vì điều kiện công việc xa xôi không thể về toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo thông báo của toà án được. Anh thống nhất yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn giải quyết xét xử vụ án ly hôn giữa anh chị và đề nghị giải quyết vắng mặt anh.
Kết quả xác minh tại địa phương:
Chị Hoàng Thị Ngọc H và anh Lê Quang V kết hôn từ năm 2017, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục và đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại xã T. Anh V có báo cáo với trưởng thôn là vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Hiện nay anh chị đã ly thân, anh V đi làm ở Quảng Ngãi, còn chị H và con nhỏ thì về nhà ngoại ở. Anh chị có 01 con chung là Lê Quang Hoàng Q, sinh năm 2018, cháu đang ở cùng với chị H tại gia đình bên ngoại.
Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,55,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D, cho Chị H được ly hôn anh V; về con chung: Đề nghị giao cháu Lê Quang Hoàng Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của chị Hoàng Thị Ngọc H:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị H và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, huyện T (nay là thị xã N), Thanh Hóa ngày 06/10/2017 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau. Anh chị đã ly thân hơn 01 năm nay, mỗi người ở mỗi nơi không quan tâm đến nhau. Chị H làm đơn ly hôn, anh V cũng đồng ý ly hôn. Chứng tỏ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp với quy định tại các Điều 51,55 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Quang Hoàng Q, sinh ngày 26/01/2018. Hiện nay cháu Q đang ở cùng chị H. Anh V đồng ý để chị H tiếp tục nuôi con. Chị H có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung, chị H là lao động tự do, sức khỏe tốt, thu nhập ổn định, chị có đủ điều kiện nuôi dạy con tốt. Nên giao cháu Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về tài sản và vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Ngọc H.
- Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Ngọc H được ly hôn anh Lê Quang V.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Quang Hoàng Q, sinh ngày 26/01/2018. Giao cháu Q cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nên HĐXX không xem xét. Anh V được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0007174 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Ngọc H và bị đơn anh Lê Quang V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Trương Văn Bắc |
Nguyễn Thanh Huyền |
|
|
Quản Giang Thao |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H
