|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/KDTM-PT Ngày: 22 - 7 - 2024 V/v “Tranh chấp phần vốn góp giữa các thành viên công ty” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLPT-KDTM ngày 26 tháng 02 năm 2024 “Tranh chấp phần vốn góp giữa các thành viên công ty”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2177/2024/QĐPT-KDTM ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Cảnh B, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận – Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Cảnh B:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 – Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thái H1, sinh năm 1998 – Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Lô A Khu dân cư H, đường T, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Trần Hoàng P - Công ty L, Đoàn luật sư Thành phố H – Có mặt
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1
Địa chỉ: Thôn B, Xã S, Huyện H, tỉnh Bình Thuận
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972, Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty: Bà Nguyễn Thị Mai C, sinh năm 1985; địa chỉ: 3 L, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty: Ông Huỳnh Phước H3, sinh năm 1979 – Có mặt.
Địa chỉ: 3 M, phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972
- Ông Hoàng Thế M, sinh năm 1958
- Ông Ngô Đức D, sinh năm 1970
- Ông Lý Duy T, sinh năm 1965
- Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận – Có đơn xin xét xử vắng mặt
Chức vụ: Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1
Địa chỉ: A quốc lộ A, khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước – Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2:
- Bà Nguyễn Thị Mai C, sinh năm 1985
Địa chỉ: 3 L, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Chức vụ: Thành viên Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1
Địa chỉ: A đường P, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước – Có mặt
Địa chỉ: Khu phố Tân Phú, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: Tổ 02, khu phố Phú Trung, phường An Lộc, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Cảnh B.
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cũng như quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Cảnh B và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thái H1 trình bày:
Quá trình góp vốn và phát sinh tranh chấp giữa các thành viên góp vốn của Công ty TNHH D1.
Ông Trần Cảnh B là thành viên sáng lập Công ty TNHH D1 (kiêm Giám đốc từ khi thành lập năm 2008 đến 12/2019). Công ty TNHH D1 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3400706028 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp ngày 09/6/2008; thay đổi lần thứ 5 ngày 25/12/2019. Căn cứ Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh nêu trên Công ty có 03 thành viên với giá trị phần vốn góp cụ thể:
- - Nguyễn Văn H2: 15.000.000.000 VND tương ứng với 50%;
- - Trần Cảnh B: 9.000.000.000 VND tương ứng với 30%;
- - H: 6.000.000.000 VND tương ứng với 20%.
Căn cứ biên bản họp ngày 07/12/2019, Công ty T2 cử ông Nguyễn Văn H2 chính thức là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1.
Do công tác điều hành không có sự minh bạch về vấn đề tài chính, tiến trình góp vốn của các thành viên trong Công ty vẫn chưa góp đủ số vốn như quy định tại Điều lệ, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Mặc dù chưa góp đủ vốn, từ năm 2017 ông Nguyễn Văn H2, thành viên giữ 50% vốn điều lệ của Công ty đã thông báo miệng về việc đã chuyển nhượng lại cho ông Ngô Đức D 10% giá trị phần vốn góp (tương ứng với số tiền 3.000.000.000 đồng); ông Lý Duy T 10% giá trị phần vốn góp (tương ứng với số tiền 3.000.000.000 đồng). Cũng từ thời điểm ông Nguyễn Văn H2 thông báo miệng việc chuyển nhượng nêu trên thì trong các cuộc họp hội đồng thành viên (HĐTV), ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D được tham dự họp HĐTV của Công ty D1.
Căn cứ vào chi phí thực tế quản lý của Công ty, việc góp vốn được thực hiện rời rạc, theo giai đoạn, chứ không tuân thủ theo quy định như Điều lệ, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, việc công khai, minh bạch về chi phí quản lý hoạt động của Công ty trong giai đoạn này cũng không được thực hiện, cụ thể là giai đoạn từ tháng 9/2019 đến tháng 3/2021, Tôi không nhận được bất cứ một báo cáo hay một thông báo nào liên quan đến nội dung hoạt động Công ty, tiến trình góp vốn, triển khai dự án.... Nhận thấy có sự mập mờ trong công tác quản lý điều hành doanh nghiệp, vì quyền lợi cũng như trách nhiệm của một thành viên đối với sự phát triển của Công ty, Tôi đã đề xuất Công ty tổ chức cuộc họp HĐTV nhằm làm rõ, xác định số vốn góp của các thành viên đến thời điểm hiện tại cũng như những công tác điều hành khác. Chính vì vậy, Công ty đã triệu tập cuộc họp HĐTV ngày 07/3/2021. Trong cuộc họp này, ông Nguyễn Văn H2 đã thông báo nội dung sau:
“...Tổng số vốn đã góp vào Công ty D1 đến ngày 06/3/2021 là: 14.597.371.432 VND (vốn điều lệ 30.000.000.000 VND);Cũng bằng lời nói ông H2 công bố đã chuyển nhượng lại cho ông Lý Duy T 10% vốn góp và ông Ngô Đức D 10% vốn góp. Tỷ lệ phần vốn góp còn lại của Ông H2 là 30%...; Ngoài ra tại phần ý kiến, ông H2 ý kiến các thành viên phải góp đủ vốn theo tỷ lệ góp vốn căn cứ điều lệ, việc chuyển nhượng vốn sẽ được thực hiện sau khi góp đủ vốn điều lệ của thành viên muốn chuyển nhượng.. ".
Nội dung ông H2 thông báo mâu thuẫn với vấn đề góp vốn của Ông H2. Ngoài ra, đối với đề nghị báo cáo vấn đề chi phí Công ty, ông Nguyễn Văn H2 - Giám đốc yêu cầu Tôi liên hệ kế toán, trong khi với tư cách là Giám đốc, ông H2 bắt buộc phải thực hiện khi nhận được yêu cầu từ thành viên Công ty (không công khai báo cáo tài chính của công ty).
Vì cuộc họp chưa giải quyết hết những nội dung đang tồn tại, nhất là ấn định thời hạn góp vốn của các thành viên để có cơ sở triển khai các dự án của Công ty, ngày 20/4/2021, giữa các thành viên của Công ty đã tiến hành họp HĐTV, trong đó các bên thống nhất các nội dung quan trọng và có tính bắt buộc như sau:
- Đồng ý ấn định thời gian, chậm nhất đến ngày 15/05/2021 các thành viên sẽ góp đủ vốn theo tỷ lệ vốn góp của mình trong vốn điều lệ. Hết thời gian này, thành viên không góp đủ vốn đồng ý thay đổi tỷ lệ vốn góp theo số tiền đã góp so với tỷ lệ vốn góp theo điều lệ của thành viên đó.
- Trường hợp ông H2 chuyển nhượng một phần vốn góp cho ông T và ông D, thì ông H2 phải hoàn tất góp đủ phần vốn của ông theo điều lệ (tức phải góp đủ 50% vốn như quy định).
Như vậy, các bên đã thống nhất phải hoàn tất việc góp vốn theo tỷ lệ đã ấn định đến hết ngày 15/5/2021, đó là điều kiện tiên quyết để tất cả các thành viên thực hiện các thủ tục tiếp theo của dự án. Hơn nữa, các bên cũng tái khẳng định việc chuyển nhượng phần vốn góp cho thành viên khác phải được thực hiện đúng quy định là phải góp đủ vốn.
Tính đến hết ngày 20/4/2021, tỷ lệ góp vốn với số tiền của các thành viên Công ty (theo thông báo từ người đại diện pháp luật - ông Nguyễn Văn H2) vẫn còn thiếu với số tiền cụ thể:
- Ông Nguyễn Văn H2 còn thiếu 3.904.352.165 VND;
- Ông Trần Cảnh B còn thiếu 6.304.361.244 VND;
- Ông Hoàng Thế M còn thiếu 2.590.585.496 VND;
Ông Lý Duy T và Ngô Đức D mặc dù tại thời điểm này chưa có đầy đủ tư cách thành viên trong Công ty nhưng với sự thông báo của ông Nguyễn Văn H2, ông Hoàng Thế M vẫn được xác định như là thành viên góp vốn, được xác định số tiền còn thiếu như sau:
- Ông Lý Duy T còn thiếu 1.295.331.748 VND;
- Ông Ngô Đức D còn thiếu 1.295.331.748 VND.
Thực hiện theo Biên bản ngày 20/4/2021, từ ngày 14/5/2021 đến ngày 15/5/2021, tôi đã hoàn tất việc góp số tiền còn thiếu vào tài khoản Công ty với số tiền 6.304.361.244 đồng. Như vậy, tính đến thời điểm ngày 15/5/2021, Ông B đã hoàn tất việc vốn góp vào Công ty TNHH D1 với tổng số tiền 9.000.000.000 VND, tương ứng với 30% vốn điều lệ Công ty.
Ngày 17/5/2021, Công ty tiếp tục họp HĐTV để công bố tiến trình góp vốn, đồng thời ký cấp giấy chứng nhận góp vốn, tuy nhiên Tôi nhận thấy có sự không minh bạch giữa việc góp vốn, chuyển nhượng qua lại bằng miệng giữa các ông Nguyễn Văn H2, Hoàng Thế M, Lý Duy T và Ngô Đức D (giữa các cả nhân này lại tự xác nhận với nhau việc ông D, ông T đóng tiền giúp ông H2, từ đó ông H2 đã góp đủ vốn và có quyền chuyển nhượng lại cho ông D, ông T, điều này là sự cấu kết nhằm hợp thức hóa việc chuyển nhượng không đúng quy định pháp luật) nên Tôi không tham gia ký biên bản,
Ngày 29/5/2021, tại phiên họp HĐTV tiếp theo, Tôi đề nghị ông Nguyễn Văn H2 thông báo tính đến thời điểm ngày 15/5/2021, kết quả của việc góp vốn giữa các thành viên cũng như cấp Giấy xác nhận góp vốn cho Tôi. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại ông H2 với tư cách là Giám đốc vẫn chưa thực hiện việc báo cáo rõ ràng tình trạng góp vốn của các thành viên tính đến ngày 15/5/2021;
Từ những phân tích nêu trên, ông B là thành viên hiện đang nắm giữ 30% giá trị phần vốn góp Công ty TNHH D1 có nguyện vọng đề nghị Tòa án xem xét yêu cầu ông Nguyễn Văn H2 với tư cách Giám đốc và ông Hoàng Thế M - Thành viên Công ty cung cấp số tiền chính xác đã góp vốn tính đến ngày 15/5/2021.
Nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định tỷ lệ phần vốn góp cho các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 bao gồm ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M trên cơ sở số tiền đã góp thực tế đến ngày 15/5/2021 (Theo Biên bản ngày 20/4/2021).
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với ông Nguyễn Văn H2 là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Theo Giấy xác nhận góp vốn của các thành viên Công ty TNHH D1 đã được ông Trần Cảnh B là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1 xác nhận bằng ký tên và đóng dấu nộp cho Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận ngày 10/03/2016 (vào lần thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh lần thứ 3), cụ thể: Vốn điều lệ công ty: 30.000.000.000 đồng; ông Trần Cảnh B đã góp đủ 9.000.000.000 đồng; ông Hoàng Thế M đã góp đủ 10.500.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn H2 đã góp đủ 10.500.000.000 đồng.
Ngoài ra, ông Trần Cảnh B với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1 đã ký tên và đóng dấu vào văn bản Thông báo về việc tiến độ góp vốn của các thành viên Công ty và nộp cho Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận. Theo đó, thông báo xác định ngày góp đủ vốn của các thành viên là ngày 10/3/2016 (Bản chính của các văn bản này đang được lưu giữ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận. Công ty được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận cấp bản sao có ký tên và đóng dấu đại diện Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B).
Nhưng nay cũng chính ông Trần Cảnh B lại là người nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H2 - Giám đốc Công ty TNHH D1 cấp giấy xác nhận góp vốn cho các thành viên Công ty. Trong khi đó, kể từ lúc ông Nguyễn Văn H2 thay ông Trần Cảnh B làm đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1 từ ngày 25/12/2019 (vào lần thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh lần thứ 5), thì ông B không hề có sự bàn giao hồ sơ, sổ sách, giấy tờ nào cho ông H2. Hành vi trước sau bất nhất của ông B, cho thấy sự gian dối trắng trợn trước cơ quan có thẩm quyền.
Ngoài ra, vào ngày 03/03/2023, ông Nguyễn Văn H2 (đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1), ông Hoàng Thế M (thành viên góp vốn) và đại diện theo ủy quyền của ông Trần Cảnh B - thành viên góp vốn (bà Nguyễn Thị Thái H1 và ông Nguyễn Văn H) đã có buổi làm việc với đại diện Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B.
Trong biên bản làm việc ngày 03/03/2023, Phòng Đăng ký kinh doanh có ý kiến như sau: “... theo thông tin do C1 - H cung cấp tại công văn số 360/CCTKV ngày 24/02/2023 về việc góp vốn điều lệ của Công ty TNHH D1, báo cáo tài chính đến cuối năm 2021 của Công ty có số vốn đã góp là 30.000.000.000 đằng...”.
Cơ quan thuế cũng đã xác nhận, Công ty TNHH D1 đã góp đủ vốn điều lệ 30.000.000.000 đồng, vào năm 2021.
Theo thông báo về việc thụ lý vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp phần vốn góp giữa các thành viên công ty” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận thì người khởi kiện (nguyên đơn) là ông Trần Cảnh B; Công ty TNHH D1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ông Nguyễn Văn H2 là người bị kiện (bị đơn). Theo đó, ông B không có yêu cầu gì đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH D1. Việc tranh chấp giữa ông B và ông H2 là việc cá nhân giữa hai người không liên quan đến Công ty TNHH D1.
Từ những trình bày nêu trên, cho thấy các yêu cầu khởi kiện của ông Trần Cảnh B tại Đơn khởi kiện ngày 03/8/2022 là không có cơ sở. Vì vậy, kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 30, điểm đ khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đình chỉ giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B trình bày: Không có ý kiến
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Thế M trình bày: Ông là thành viên góp vốn của Công ty TNHH D1, tỷ lệ góp vốn hiện nay là 23,43% vốn điều lệ
Trước đây ông có thỏa thuận chuyển nhượng 10% vốn điều lệ tương ứng với số tiền 3.000.000.000 đồng cho ông Lý Duy T. Thực hiện thỏa thuận, ông T đã nộp đủ 3.000.000.000 đồng vào Công ty (do thời điểm này ông chưa góp đủ vốn nên ông T nộp tiền vào công ty thay ông). Nay ông không chuyển nhượng 10% vốn góp cho ông T nữa và dùng số tiền 3.000.000.000 đồng ông T đã nộp vào để góp đủ phần vốn góp. Ông cam kết việc này không liên quan đến Công ty và tự chịu trách nhiệm về việc vay mượn tiền giữa ông và ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Đức D và ông Lý Duy T trình bày: Trước đây, ông D và ông T có thỏa thuận với ông Nguyễn Văn H2 về việc mỗi ông nhận chuyển nhượng của ông H2 10% vốn điều lệ tương ứng với số tiền 3.000.000.000 đồng. Nay các ông D và ông T hủy bỏ không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng vốn góp. Còn số tiền 3.000.000.000 đồng nêu trên để góp đủ vốn điều lệ của ông H2, ông M trong Công ty TNHH D1.
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 30, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 47, Điều 48, Điều 68 Luật Doanh nghiệp năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Cảnh B (Thích Minh N) về việc xác định tỷ lệ phần vốn góp cho các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 bao gồm ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M trên cơ sở số tiền đã góp thực tế đến ngày 15/5/2021 (Theo Biên bản ngày 20/4/2021) với tỷ lệ góp vốn của ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M như sau:
Công nhận ông Nguyễn Văn H2 có phần góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với số tiền đã góp là 15.000.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ 50% vốn điều lệ của Công ty.
Công nhận ông Trần Cảnh B có phần góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với số tiền đã góp là 9.000.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ 30% vốn điều lệ của Công ty.
Công nhận ông Hoàng Thế M có phần góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với số tiền đã góp là 6.000.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ 20% vốn điều lệ của Công ty.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp cho ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M với số vốn góp và tỷ lệ như trên.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, việc thi hành bản án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-KDTM kháng nghị một phần Bản án số 03/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng xác định tại thời điểm ngày 15 tháng 5 năm 2021, phần vốn góp thực tế của ông Trần Cảnh B, ông Nguyễn Văn H2, ông Hoàng Thế M.
Ngày 08/12/2023 ông Trần Cảnh B kháng cáo một phần Bản án số 03/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về việc xác định lại tỷ lệ vốn góp của các thành viên công ty.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao vẫn giữ nguyên quan điểm kháng nghị đề nghị chấp nhận nội dung kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng của các bên đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về nội dung:
[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận kháng nghị một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm, đề nghị xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định phần vốn góp thực tế của các ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M đến thời điểm ngày 15/5/2021 là 21.409.414.504 đồng, chiếm 71,36% vốn điều lệ. Trong đó: Ông Nguyễn Văn H2 9.000.000.000 đồng, chiếm 30% vốn điều lệ; ông Trần Cảnh B 9.000.000.000 đồng, chiếm 30% vốn điều lệ; ông Hoàng Thế M 3.409.414.504 đồng, chiếm 11.36% vốn điều lệ.
Nguyên đơn ông Trần Cảnh B kháng cáo một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm, đề nghị không công nhận phần vốn góp của ông Hoàng Thế M với số tiền 2.950.585.496 đồng, lý do góp chậm (sau ngày 15/5/2021) và không công nhận số tiền ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D đã góp thay cho ông Nguyễn Văn H2. Buộc Công ty TNHH D1 phải thay đổi vốn điều lệ tương ứng với số vốn điều lệ thực tế các thành viên đã góp đến ngày 15/5/2021.
[1.2] Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:
Công ty TNHH D1 là loại hình doanh nghiệp “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”, có 03 thành viên góp vốn gồm: các ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M - do ông Nguyễn Văn H2 giữ chức danh Giám đốc - là người đại diện theo pháp luật của công ty.
Vốn điều lệ của Công ty TNHH D1 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3400706028, thay đổi lần thứ 5, ngày 25/12/2019 là 30.000.000.000 (ba mươi tỷ) đồng. Trong đó, số vốn mà các thành viên cam kết góp vào Công ty là:
- - Ông Nguyễn Văn H2 cam kết góp vốn 15.000.000.000 (mười lăm tỷ) đồng, chiếm tỷ lệ 50% vốn điều lệ.
- - Ông Trần Cảnh B cam kết góp vốn 9.000.000.000 (chín tỷ) đồng, chiếm tỷ lệ 30% vốn điều lệ.
- - Ông Hoàng Thế M cam kết góp vốn 6.000.000.000 (sáu tỷ) đồng, chiếm tỷ lệ 20% vốn điều lệ.
Ông Trần Cảnh B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Xác định phần vốn góp thực tế của các thành viên đã góp vào Công ty TNHH D1 tính đến thời điểm ngày 15/5/2021 (tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã rút các yêu cầu khởi kiện khác và Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với các yêu cầu đã rút, không có kháng cáo, kháng nghị).
[1.3] Căn cứ vào Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 20/4/2021, có cơ sở để xác định tổng số vốn đã góp vào Công ty TNHH D1 đến ngày 20/4/2021 là 14.597.371.432 đồng. Cụ thể các thành viên đã góp như sau:
- - Ông Nguyễn Văn H2 đã góp 5.095.647.835 đồng.
- - Ông Trần Cảnh B đã góp 2.695.638.756 đồng.
- - Ông Hoàng Thế M đã góp 3.409.414.504 đồng.
- - Ông Lý Duy T đã góp 1.704.668.252 đồng.
- - Ông Ngô Đức D đã góp 1.704.668.252 đồng.
Cũng tại Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 20/4/2021, các thành viên đồng ý ấn định chậm nhất đến ngày 15/5/2021, sẽ góp thêm 15.389.962.401 đồng, để góp đủ số vốn điều lệ 30.000.000.000 đồng. Trong đó, phần còn phải góp của các thành viên cụ thể như sau:
- - Ông Nguyễn Văn H2 còn phải góp 3.904.352.165 đồng.
- - Ông Trần Cảnh B còn phải góp 6.304.361.244 đồng.
- - Ông Hoàng Thế M còn phải góp 2.590.585.496 đồng.
- - Ông Lý Duy T còn phải góp 1.295.331.748 đồng.
- - Ông Ngô Đức D còn phải góp 1.295.331.748 đồng.
[1.4] Về việc thực hiện nghĩa vụ góp vốn theo cam kết của các thành viên như sau:
- Đối với ông Trần Cảnh B: Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, số vốn ông B cam kết góp là 9.000.000.000 đồng, chiếm 30% vốn điều lệ. Đến ngày 20/4/2021, đã góp 2.695.638.756 đồng; cam kết chậm nhất đến ngày 15/5/2021 sẽ góp 6.304.361.244 đồng, đủ 30% vốn điều lệ. Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ và sự thừa nhận của các đương sự, có cơ sở xác định đến thời điểm ngày 15/5/2021, ông B đã góp đủ số vốn điều lệ theo cam kết là 9.000.000.000 đồng, chiếm tỷ lệ 30% vốn điều lệ.
- Đối với ông Hoàng Thế M: Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, số vốn ông M cam kết góp là 6.000.000.000 đồng, tương đương 20% vốn điều lệ. Đến ngày 20/4/2021, đã góp 3.409.414.504 đồng; cam kết chậm nhất đến ngày 15/5/2021 sẽ góp 2.590.585.496 đồng, đủ 20% vốn điều lệ. Tuy nhiên, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, đến ngày 29/5/2021 (sau ngày 15/5/2021) ông M mới thực hiện nghĩa vụ chuyển vào tài khoản Công ty TNHH D1 số tiền 2.590.585.496 đồng (bản sao kê ngày 29/5/2021 của Ngân hàng TMCP Á). Như vậy, đến ngày 15/5/2021 thì ông M đã góp 3.409.414.504 đồng; Đến ngày 29/5/2021, ông M đã góp đủ 6.000.000.000 đồng, chiếm 20% vốn điều lệ.
- Đối với ông Nguyễn Văn H2:
Theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, số vốn ông H2 cam kết góp là 15.000.000.000 đồng, chiếm 50% vốn điều lệ.
Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 20/4/2021, số vốn ông H2 đã góp là 5.095.647.835 đồng.
Ông H2 cho rằng, ông đã chuyển nhượng phần vốn góp của ông cho ông Lý Duy T 10% vốn điều lệ, tương đương 3.000.000.000 đồng và chuyển nhượng cho ông Ngô Đức D 10% vốn điều lệ, tương đương 3.000.000.000 đồng nên số vốn ông H2 còn phải góp là 9.000.000.000 đồng, chiếm 30% vốn điều lệ, cam kết chậm nhất đến ngày 15/5/2021 sẽ góp 3.904.352.165 đồng, đủ 9.000.000.000 đồng.
Về việc chuyển nhượng phần vốn góp giữa ông H2 với các ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Phần vốn góp chưa góp của ông H2 được ông H2 chào bán cho ông Lý Duy T1 10% vốn điều lệ và cho ông Ngô Đức D 10% vốn điều lệ, nhưng việc chào bán không có Nghị quyết hay quyết định của Hội đồng thành viên là vi phạm điểm c khoản 3 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Ngoài ra, việc chuyển nhượng phần vốn góp chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 52 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, nên việc chuyển nhượng phần vốn góp giữa ông H2 với các ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D là vô hiệu. Ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D cũng chưa đăng ký thành viên công ty nên ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D không phải là thành viên công ty. Do các bên không tranh chấp đối với hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp nên không xem xét, trong trường hợp các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Tại Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 20/4/2021 thể hiện, ông Lý Duy T đã góp 1.704.668.252 đồng và ông Ngô Đức D đã góp 1.704.668.252 đồng. Cam kết chậm nhất đến ngày 15/5/2021 mỗi người sẽ góp 1.295.331.748 đồng, đủ 3.000.000.000 đồng, tương đương 10% vốn điều lệ. Do ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D không phải là thành viên công ty nên các khoản tiền do ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D góp vào Công ty TNHH D1 không được xem là số vốn góp và lẽ ra phải được Công ty TNHH D1 trả lại. Tuy nhiên, ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D đều đồng ý hủy bỏ việc chuyển nhượng vốn góp và số tiền các ông đã góp tự nguyện góp thay cho ông H2, ý chí này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, Tòa án sơ thẩm xác định khoản tiền của ông T và ông D đã góp là phần vốn góp của ông H2 vào Công ty TNHH D1 là có cơ sở. Trong trường hợp, ông T và ông D có tranh chấp với ông H2 về khoản tiền đã đóng thay cho ông H2 thì đó là một quan hệ pháp luật khác.
Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 17/5/2021, tổng số vốn góp của Công ty là 29.504.668.252 đồng và Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 29/5/2021, đã xác nhận các thành viên đã góp đủ vốn điều lệ, việc giấy chứng nhận vốn góp cho các thành viên sẽ thực hiện sau ngày 19/6/2021. Riêng ông B có ý kiến, có thành viên góp đủ nhưng không đúng hạn theo biên bản ngày 20/4/2021.
Như vậy, có căn cứ để xác định ông H2 đã góp đủ số vốn điều lệ theo cam kết gồm phần vốn góp của ông H2 và phần vốn góp ông D và ông T góp thay.
[1.5] Mặc dù, nguyên đơn ông Trần Cảnh B chỉ yêu cầu Tòa án xác định tổng giá trị phần vốn góp thực tế của các thành viên đã góp vào Công ty TNHH D1 tính đến ngày 15/5/2021. Tuy nhiên, ông Hoàng Thế M là thành viên góp vốn, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án xem xét việc ông đã góp đủ vốn điều lệ. Để việc giải quyết vụ án được triệt để, toàn diện, khách quan, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đến khoản tiền 2.590.585.496 đồng (theo bản sao kê ngày 29/5/2021 của Ngân hàng TMCP Á) do ông M góp ngày 29/5/2021 (sau ngày 15/5/2021; nhưng trước thời điểm xét xử sơ thẩm) để xác định ông M đã góp đủ 6.000.000.000 đồng, chiếm 20% vốn điều lệ là phù hợp, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, không để phát sinh vụ án khác trong trường hợp ông M có yêu cầu xác định giá trị phần vốn góp của ông. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm phía Công ty TNHH MTV D1 cũng trình bày: hiện tại vốn Điều lệ của Công ty đã tăng lên là 50 tỷ đồng và đã được Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh B cấp Giấy đăng ký, các thành viên Công ty đã đóng đủ phần vốn góp mới này.
[2] Từ nhận định trên cho thấy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận và kháng cáo của ông B với cùng nội dung không công nhận phần vốn góp của ông Hoàng Thế M với số tiền 2.950.585.496 đồng sau ngày 15/5/2021 (ngày 29/5/2021) và không công nhận phần vốn góp của ông Lý Duy T và ông Ngô Đức D góp thay cho ông Nguyễn Văn H2. Chỉ xác định tổng giá trị phần vốn góp thực tế của các thành viên đã góp vào Công ty TNHH D1 tính đến ngày 15/5/2021, là không phù hợp với phân tích đã nêu trên nên không có cơ sở để chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị và kháng cáo của ông B. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc xác định tổng giá trị phần vốn góp thực tế của các thành viên đã góp vào Công ty TNHH D1 như bản án sơ thẩm đã tuyên.
[3] Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm tuyên buộc Công ty TNHH D1 cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên là không phù hợp do nguyên đơn đã rút yêu cầu và Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ. Do đó, sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên án.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là không phù hợp, nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm:
Ông Trần Cảnh B phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận và kháng cáo của ông Trần Cảnh B.
Sửa một phần bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về phần quyết định.
Áp dụng Điều 47, Điều 48, Điều 68 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Cảnh B (Thích Minh N) về việc xác định tỷ lệ phần vốn góp cho các thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 bao gồm ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M trên cơ sở số tiền đã góp thực tế đến ngày 15/5/2021 (Theo Biên bản ngày 20/4/2021) với tỷ lệ góp vốn của ông Nguyễn Văn H2, ông Trần Cảnh B và ông Hoàng Thế M như sau:
Công nhận ông Nguyễn Văn H2 có phần góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với số tiền đã góp là 15.000.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ 50% vốn điều lệ của Công ty.
Công nhận ông Trần Cảnh B có phần góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với số tiền đã góp là 9.000.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ 30% vốn điều lệ của Công ty.
Công nhận ông Hoàng Thế M có phần góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 với số tiền đã góp là 6.000.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ 20% vốn điều lệ của Công ty.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Ông Trần Cảnh B phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nhưng được khấu trừ 3.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008391 ngày 11/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Ông Trần Cảnh B đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ông Trần Cảnh B phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông B đã nộp theo Biên lai thu số 0000064 ngày 11/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 48/2024/KDTM-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp phần vốn góp giữa các thành viên công ty
- Số bản án: 48/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phần vốn góp giữa các thành viên công ty
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Cảnh Bình
