Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Cẩm Vân và bà Hoàng Thị Thu Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Quách Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 5 năm 1973; Nơi thường trú: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Trần Đình Q, sinh năm: 1943; Con bà: Đoàn Thị M (Đã chết); A, chị, em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Đoàn Thị T, sinh năm 1981; Con: 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 2002, đứa nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 18/02/2024 đến ngày 12/4/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh (có mặt)

- Nguyên đơn dân sự: Công an thị xã K, do ông Hà Văn T1, sinh năm 1987; Chức vụ: Phó Đội trưởng Đ, Công an thị xã K, Hà Tĩnh đại diện theo ủy quyền (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Xuân B, sinh năm 1994; Chức vụ: Cán bộ; Nơi công tác: Đ trật tự, Công an thị xã K, Hà Tĩnh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Ông Lê Anh D, sinh năm 1996; Chức vụ: Cán bộ; Nơi công tác: Đội Cảnh sát Q1, Công an thị xã K, Hà Tĩnh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Đoàn Thị T, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do ( có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
  2. Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
  3. Anh Lê Bá K, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 07/KH-CATX-CSĐT ngày 10/01/2024 của Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh về việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn; Kế hoạch số 09/KH-CSGT, ngày 07/02/2024 của Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an thị xã K về phân công nhiệm vụ của các tổ công tác tuần tra kiểm sát xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông kể từ ngày 08/02/2024 đến ngày 17/02/2024, theo đó Tổ công tác số 5 gồm các đồng chí: Trần Anh T2, Nguyễn Tuấn A, Nhự Tiến S1, Nguyễn Xuân B1, Lê Anh D cán bộ Công an thị xã K được giao nhiệm vụ tuần tra kiểm sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông trên tuyến đường Q và các tuyến đường trên địa bàn phường K, thị xã K, Tĩnh H kể từ 19 giờ đến 24 giờ, ngày 17/02/2024. Trong khi Tổ công tác số 5, Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã K đang làm nhiệm vụ tại đường N, thuộc tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì Trần Văn S sau khi uống rượu tại nhà bà ngoại (mẹ vợ) ở Tổ dân phố T, phường K vẫn điều khiển xe ô tô BKS: 38A-453.97 chạy theo đường Nguyễn Công T3 để về nhà. Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 17/02/2024, đồng chí Nguyễn Xuân B1 và đồng chí Lê Anh D, thuộc Tổ công tác số 5 đang tuần tra kiểm soát cơ động tại đường N thì phát hiện xe ô tô BKS: 38A-453.97 do Trần Văn S điều khiển, có biểu hiện vi phạm nồng độ cồn,

nên đồng chí Nguyễn Xuân B1 dừng xe mô tô bên đường và đi ra giữa đường ra hiệu lệnh yêu cầu Trần Văn S dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn. Khi nhận được hiệu lệnh yêu cầu dừng xe, Trần Văn S không chấp hành mà điều khiển xe ô tô BKS: 38A-453.97 bỏ chạy, buộc đồng chí Nguyễn Xuân B1 phải tránh sang một bên đường. Khi Trần Văn S điều khiển xe ô tô bỏ chạy thì đồng chí Nguyễn Xuân B1 lấy xe mô tô công vụ BKS: 38B2-000.38, chở đồng chí Lê Anh D đuổi theo để xử lý. Quá trình truy đuổi, đồng chí Lê Anh D tiếp tục ra hiệu lệnh yêu cầu Trần Văn S dừng xe lại, nhưng Trần Văn S vẫn không chấp hành và tiếp tục điều khiển xe ô tô bỏ chạy. Khi đến đường L thuộc tổ dân phố N, phường K, thị xã K, xe ô tô BKS: 38A-453.97 do Trần Văn S điều khiển giảm tốc độ, nên đồng chí Nguyễn Xuân B1 điều khiển xe mô tô công vụ BKS: 38B2-000.38 vượt lên phía trước bên trái đầu xe ô tô để buộc Trần Văn S phải dừng xe lại, nhưng Trần Văn S không chấp hành mà vẫn điều khiển xe chạy tiếp nên đầu xe bên trái xe ô tô BKS: 38A-453.97 do Trần Văn S điều khiển đã va quyệt vào xe mô tô BKS: 38B2-000.38 do đồng chí Nguyễn Xuân B1 điều khiển, làm xe mô tô ngã xuống đường, thì Trần Văn S mới dừng xe lại. Sau khi Trần Văn S dừng xe, đồng chí Nguyễn Xuân B1 yêu cầu Trần Văn S xuống xe và chấp hành việc kiểm tra nồng độ cồn thì Trần Văn S xuống xe, nhưng không chấp hành việc đo nồng độ cồn mà có lời lẽ xúc phạm, đe dọa đồng chí Nguyễn Xuân B1; đồng thời Trần Văn S dơ tay dí vào mặt, bóp vào mũi và xô đẩy, cản trở việc thi hành công vụ của đồng chí Nguyễn Xuân B1. Mặc dù đồng chí Nguyễn Xuân B1 tiếp tục giải thích, yêu cầu Trần Văn S chấp hành việc kiểm tra nồng độ cồn nhiều lần, nhưng Trần Văn S vẫn không chấp hành mà bỏ xe ô tô lại trên đường, rồi đi bộ về nhà. Ngay sau khi Trần Văn S về nhà, khoảng 20 giờ cùng ngày, Công an phường K phối hợp với Tổ công tác số 5, Đội cảnh sát giao thông Công an thị xã K đến nhà triệu tập Trần Văn S đến trụ sở Công an phường để làm việc, thì Trần Văn S mới chấp hành. Tại trụ sở Công an phường K, thị xã K đã tiến hành đo nồng độ cồn trong khí thở của Trần Văn S; kết quả Trần Văn S có nồng độ cồn trong khí thở là 0,675 miligam/1 lít khí thở.

Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, xác định: Xe mô tô BKS 38B2-000.38 và xe ô tô BKS: 38A-453.97 có va chạm với nhau. Ốp bảo vệ ống xả xe mô tô với góc bên trái ba đờ xốc phía trước xe mô tô là vị trí va chạm. Hai phương tiện va chạm cùng chiều với nhau. Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 38B2-000.38 và xe ô tô BKS: 38A-453.97 nằm trên làn đường thứ 2 (tính từ mép đường chuẩn), phần đường bên phải đường L thuộc tổ dân phố N, phường K, thị xã K theo chiều từ Bắc vào N. Xe mô tô BKS: 38B2-000.38 bị hư hỏng nhẹ, thiệt hại không đáng kể.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ các vật chứng bao gồm: thu của Trần Văn S 01 chiếc xe ô tô hiệu Misubishi Xpander, màu đen, BKS: 38A-453.97; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 38 019260, 01 Giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 1439440, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; thu của đồng chí Nguyễn Xuân B1 01 chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, màu trắng đen, BKS: 38B2-000.38 cùng giấy tờ xe. Xe mô tô BKS 38B2-000.38 (cùng các giấy tờ xe kèm theo) đã trả lại cho Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an thị xã K là chủ sở hữu; còn xe ô tô BKS: 38A-453.97 cùng các giấy tờ liên quan chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra đại diện Công an thị xã K không yêu cầu Trần Văn S bồi thường đối với thiệt hại của xe mô tô BKS: 38B2-000.38.

Cáo trạng số 38/CT - VKS-TXKA, ngày 26/04/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Trần Văn S phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Trần Văn S mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 33 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước nộp ½ giá trị của xe ô tô hiệu Misubishi Xpander, màu đen, BKS: 38A-453.97, số khung MK2LRNC1WLN030514, số máy 4A91KAK0825 còn ½ giá trị của xe ô tô hiệu Misubishi Xpander, màu đen, BKS: 38A-453.97, số khung MK2LRNC1WLN030514, số máy 4A91KAK0825 trả lại cho chị Đoàn Thị T; Tạm giữ các giấy tờ liên quan đến xe ô tô để thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương để bị cáo sửa chữa lỗi lầm đã gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 50 phút, ngày 17/02/2024, trong khi đang tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông tại đường N, thuộc tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, đồng chí Nguyễn Xuân B1Lê Anh D, thuộc Tổ công tác số 05 của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thị xã K, phát hiện xe ô tô BKS: 38A-453.97 do Trần Văn S điều khiển có vi phạm về nồng độ cồn nên đồng chí Nguyễn Xuân B1 đi ra giữa đường và ra hiệu lệnh yêu cầu dừng xe để kiểm tra, nhưng Trần Văn S không chấp hành mà lái xe bỏ chạy buộc đồng chí Nguyễn Xuân B1 phải tránh ra bên đường. Khi Trần Văn S bỏ chạy, đồng chí Nguyễn Xuân B1 đã điều khiển xe mô tô công vụ BKS: 38B2-000.38, chở theo đồng chí Lê Anh D đuổi theo đến đường L, thuộc tổ dân phố N, phường K, thị xã K và vượt lên bên trái để yêu cầu Trần Văn S dừng xe lại, nhưng Trần Văn S vẫn không chấp hành mà vẫn điều khiển xe ô tô bỏ chạy, cho đến khi xe ô tô BKS: 38A-453.97 do Trần Văn S điều khiển va quyệt vào xe mô tô công vụ BKS: 38B2-000.38, làm xe mô tô ngã xuống đường thì Trần Văn S mới dừng lại. Sau khi dừng xe, Trần Văn S xuống xe và không chấp hành việc đo nồng độ cồn mà có lời lẽ xúc phạm, đe dọa đồng chí Nguyễn Xuân B1; đồng thời Trần Văn S dơ tay dí vào mặt, bóp vào mũi và xô đẩy, cản trở việc thi hành công vụ của đồng chí Nguyễn Xuân B1, rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 20 giờ, cùng ngày, Công an phường K, thị xã K đến nhà triệu tập Trần Văn S đến trụ sở Công an phường để làm việc và đo nồng độ cồn; kết quả Trần Văn S có nồng độ cồn trong khí thở là 0,675 miligam/1 lít khí thở.

Hành vi điều khiển điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ mà trong hơi thở có nồng độ cồn không chấp hành hiệu lệnh giao thông của cảnh sát giao thông khi đang làm nhiệm vụ, tỏ thái độ chống đối không hợp tác, cố ý lái xe bỏ chạy, khi bị lực lượng cảnh sát giao thông dùng các biện pháp ngăn cản mới dừng lại, sau khi dừng xe có lời lẽ xúc phạm, đe dọa, cản trở việc thi hành công vụ của các đồng chí Cảnh sát giao thông đang thi hành công vụ của bị cáo đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 330 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố bị cáo về tội danh Điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động của Cơ quan Nhà Nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, ông nội tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba nên xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra Công an thị xã K và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự, nên không xem xét.

[5] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS: 38B2-000.38 (cùng các giấy tờ xe kèm theo), quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công an thị xã K. Đối với chiếc xe ô tô hiệu Misubishi Xpander, màu đen, BKS: 38A-453.97, số khung MK2LRNC1WLN030514, số máy 4A91KAK0825 cùng các giấy tờ liên quan, là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm phạm tội. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã K xác định xe ô tô BKS: 38A-453.97 có giá trị tại thời điểm định giá là 506.304.000đ. Quá trình điều tra xác định: Xe ô tô BKS: 38A-453.97 là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo Đoàn Văn S2 và vợ là chị Đoàn Thị T, khi bị cáo sử dụng xe ô tô thực hiện hành vi phạm tội thì chị Đoàn Thị T không biết nên không có lỗi. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình: Tịch thu ½ giá trị chiếc xe 01 ô tô nộp ngân sách Nhà nước; còn ½ giá trị xe ô tô trả lại cho chị Đoàn Thị Tư .

[6]. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 4 Điều 106; Điều 136, 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 13 (mười ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 31 tháng 7 năm 2024.

Giao bị cáo Trần Văn S cho Ủy ban nhân dân phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô BKS: 38A - 453.97; ½ giá trị của xe ô tô BKS: 38A - 453.97 còn lại ½ giá trị chiếc xe ô tô BKS: 38A - 453.97; ½ giá trị của xe ô tô BKS: 38A - 453.97 trả lại cho chị Đoàn Thị Tư .
  • - Tiếp tục tạm giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 38019260 mang tên Trần Văn S do Phòng C công an tỉnh H cấp ngày 11/5/2022, 01 Giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 1439440 do Công ty cổ phần Đ cấp ngày 13/5/2022, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số DK23/0034432 do Tổng công ty cổ phần B2 cấp ngày 18/7/2023 để thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định.
  • (Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-4-2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K)

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án về phần bồi thường trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC81 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - UBND phường Kỳ Phương, TX Kỳ Anh;
  • - Bị cáo; Nguyên đơn dân sự;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm về tội chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 48
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger