|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 30 - 7- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thế Phương;
- Ông Nguyễn Quốc Khanh.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Quới - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Âu Quang Chánh Nghĩa (Chí C), sinh năm 1998; quê quán: T - An Giang; nơi cư trú: Tổ 1, khóm H, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha Âu Quang M, mẹ Lê Thị Q (chết); anh, em ruột: 04 người, bị cáo là người thứ hai; chưa có vợ, con; quá trình nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay.
Bị hại:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985, nơi cư trú: Tổ 3 ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1986, nơi cư trú: Tổ D, khóm Đ, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Ông Lê Văn H1, sinh năm 1966, nơi cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Ông Âu Quang Chánh Đ, sinh năm 1993, nơi cư trú: tổ I, khóm H, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1976, nơi cư trú: Tổ F, khóm Đ, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Bà Đặng Thị Thúy H2, sinh năm 1986, nơi cư trú: Tổ G, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Âu Quang B, sinh năm 2006, nơi cư trú: tổ I, khóm H, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1973, nơi cư trú: tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Ông Võ Văn D, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ A, khóm S, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Nguyễn Thị Kim H3, Đỗ Thị D1, Lê Vũ H4, Âu Quang M, Nguyễn Văn C1, Lê Văn S, Lê Văn T, Nguyễn Văn E, Trịnh Cu B1, Đào Văn B2, Lê Thị T1, Lê Ngọc H5.
Bị cáo; các bị hại: Lê Văn H1, Nguyễn Văn X có mặt; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, trong khoảng thời gian từ ngày 27/12/2023 đến ngày 25/01/2024, bị cáo Âu Quang Chánh N thực hiện 06 vụ về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn thị xã T, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 06 giờ ngày 27/12/2023, N đi đến nhà bà Phạm Thị G (bà ngoại của N) tại tổ A, khóm T, phường N, thị xã T chơi. Khi đến nơi N thấy xe mô tô biển số 67AE – 034.43 của Âu Quang Chánh Đ (anh ruột của N) dựng phía trước quán nước giải khát của bà G không người trông giữ, nên N nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện, N đi đến dẫn xe ra hướng Quốc lộ I lợi dụng đoạn đường dốc hướng về chợ N1. N đạp số để khởi động xe, rồi N điều khiển xe chạy vào khu vực của 15 (thuộc Khóm X, phường T, thị xã T) bán xe cho người đàn ông tên T2 (không rõ họ, địa chỉ) với số tiền 1.000.000 đồng và tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 02/01/2024, N đi đến nhà bà Nguyễn Thị Kim H3 (tại tổ G, khóm T, phường N, thị xã T) nói chuyện với bà H3 và chị Đặng Thị Thúy H2 (con ruột bà H3), thì N hỏi mượn dây sạc điện thoại, được bà H3 đồng ý. Khi N ghim sạc điện thoại, N thấy chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A11 của chị H2 để trong rổ cũng đang ghim sạc gần đó, nên N nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại của chị H2 bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện, N lợi dụng lúc chị H2 đưa con đi học và bà H3 đi ra phía sau nhà, N liền lấy trộm điện thoại Sam Sung Galaxy A cất giấu trong người, rồi đi xe honda đò đến khu vực của 15 bản cho T2 với giá 700.000 đồng, N trả tiền xe honda đò 70.000 đồng, số tiền còn lại tiêu xài hết.
Vụ thứ ba và thứ tư: Khoảng 23 giờ ngày 21/01/2024, N điều khiển xe đạp điện từ phường T đến sân bóng đá G1 (thuộc tổ A, khóm Đ, phường N, thị xã T) thấy 01 xe mô tô biển số 67M1-3314 của anh Nguyễn Văn P đang dựng trước quầy bán nước của sân bóng đá, không người trông giữ, nên N nảy sinh ý định lấy trộm xe của anh P bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện, N liền điều khiển xe đạp đến gần chỗ xe 67M1-3314 đang dựng, N thấy trên xe 67M1-3314 có chìa khoá, nên N quay đầu xe 67M1-3314 lại và ngồi lên đạp máy để khởi động xe, nhưng không khởi động được, thì bị anh P phát hiện truy hô, N liền bỏ chạy tẩu thoát, để lại xe đạp điện tại Hiện trường.
Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, N chạy tẩu thoát đến nhà của anh Nguyễn Văn X thuộc tổ F, khóm Đ, phường N, thị xã T, N phát hiện 01 xe mô tô biển số 66L9-9382 của anh X đang dựng bên hông nhà, không người trông giữ, nên N nảy sinh ý định lấy trộm xe của anh X. Để thực hiện, N đi đến xe 66L9-9382 cầu trực tiếp nguồn điện, rồi dẫn xe ra đường khởi động điều khiển xe chạy theo Tỉnh lộ 955A về phường T. Đến khoảng 07 giờ ngày 22/01/2024, N điều khiển xe chạy về hướng xã A và bán xe cho một tiệm sửa xe ven đường (không rõ tên, địa chỉ) với giá 800.000 đồng và tiêu xài hết.
Vụ thứ năm: Khoảng 07 giờ ngày 23/01/2024, N đi xe honđa đò đến khu vực rừng Tràm T thuộc ấp V, xã V, thị xã T vào nằm võng trong quán nước đối diện nhà ông Lê Văn H1 (tổ A, ấp V, xã V), N quan sát thấy nhà ông H1 mở cửa, nhưng không người trông giữ, nên N nảy sinh ý định vào nhà ông H1 tìm tài sản lấy trộm. Để thực hiện, N đi đến trước cửa nhà ông H1 giả vờ gọi người và thấy không ai trả lời, N liền đi vào nhà lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO Reno6 của ông H1 để trên đầu tủ tại phòng khách, rồi N đi xe Honda đò về phường T tìm nơi bán, nhưng không bán được. Đến ngày 25/01/2024, N mang điện thoại OPPO Reno 6 đến Cửa hàng điện thoại Nguyễn D2 thuộc khóm H, phường N bán cho anh Võ Văn D với giá 2.500.000 đồng và tiêu xài hết.
Vụ thứ sáu: Khoảng 04 giờ ngày 26/01/2024, N đi bộ từ phường T đến xã V, thị xã T tìm tài sản lấy trộm. Khi đến tổ C, ấp V, xã V, thị xã T, N thấy chiếc vỏ lãi Composite của anh Nguyễn Văn H đang đậu cặp bờ tây kênh T, không người trông giữ, nên N nảy sinh ý định lấy trộm vỏ lãi của anh H. Để thực hiện, N đi đến tháo dây buộc vỏ lãi lấy trộm, rồi dùng cây dầm có sẵn trên vỏ lãi bơi đi cất giấu để tìm nơi tiêu thụ, N bơi đi được khoảng 550 mét bị anh Nguyễn Văn C1 phát hiện, N liền bỏ lại chiếc vỏ lãi nhảy lên bờ đi bộ một đoạn khoảng 400 - 500 mét, thì bị anh C1 cùng các anh Trịnh Cu B1, Lê Văn S, Lê Văn T và Nguyễn Văn E bắt giữ N giao cho Cơ quan Công an xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 167/KL-HĐÐG.TTHS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận:
- Một chiếc vỏ lãi composite, màu xanh - trắng, nhãn hiệu: TĐC, kích thước (5,5 x 0,85) mét, trị giá: 2.500.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 333/KL-HĐÐG.TTHS ngày 06/3/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận:
- Một xe mô tô biển số 67M1-3314, màu xanh, nhãn hiệu WAYTEC, số loại C110, trị giá: 3.000.000 đồng.
- Một xe mô tô biển số 66L9-9382, màu đen, loại xe WAVE-S, trị giá: 7.000.000 đồng.
- Một xe gắn máy biển số 67AE-034.43, nhãn hiệu ESPERO, màu sơn trắng đen, trị giá 3.000.000 đồng.
- Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6, màu đen có gắn ốp lưng bằng nhựa trong suốt, trị giá: 3.000.000 đồng.
- Một điện thoại di động nhãn hiệu S1, trị giá: 1.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 20.000.000 đồng.
Cáo trạng số 54/CT-VKSTB-HS ngày 24/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Âu Quang Chánh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận, bản thân có sử dụng ma túy và không có nghề nghiệp ổn định nên đã thực hiện các hành vi lấy trộm tài sản của người khác như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho ông X liên quan đến xe mô tô bị cáo lấy trộm của ông X bán lấy tiền tiêu xài không thu hồi lại được. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Nguyễn Văn X yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị xe mô tô mà bị cáo đã trộm được định giá xác định là 7.000.000 đồng. Ngoài ra, ông không yêu cầu nào khác.
Bị hại ông Lê Văn H1 xác định đã nhận điện thoại mà bị cáo đã lấy trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thiệt hại nào khác.
Các bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm chứng tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về hình phạt chính, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 5 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn X số tiền 7.000.000 đồng do hành vi phạm tội gây ra.
Các bị hại khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập trong vụ án.
Về xử lý vật chứng, đề nghị căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao chiếc xe đạp điện màu trắng xanh, trên khung sườn có ghi chữ National cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên thực hiện thông báo tìm chủ sở hữu. Sau thời hạn 01 năm nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với người đàn ông tên T2 mua xe mô tô biển số 67AE – 034.43 và điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy All của bị cáo, do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, chưa làm việc được. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Võ Văn D khi mua điện thoại Oppo Reno 6 không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Nên, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với D là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng,
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thị xã T; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên không đề cập xem xét.
[3] Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt. Xét, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung,
[4] Hành vi phạm tội:
Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cùng tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, diễn biến sự việc như nội dung vụ án thể hiện.
Từ đó, có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ ngày 27/12/2023 đến ngày 25/01/2024, bị cáo đã có 6 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại với tổng giá trị tài sản được xác định là 20.000.000 đồng.
Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng; xâm phạm quan hệ về sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.
Trong 6 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, có 5 lần tài sản bị cáo chiếm đoạt được xác định là trên 2.000.000 đồng nên Cáo trạng số 54/CT-VKSTB-HS ngày 24/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung cấu thành tăng nặng “có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[5] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thực hiện 05 lần hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với giá trị tài sản chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xem xét tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự trong quyết định hình phạt đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện về kinh tế, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
[7] Về xử lý vật chứng:
Bị cáo xác định chiếc xe đạp điện màu trắng xanh, trên khung sườn có ghi chữ National là của bị cáo mua đã lâu để làm phương tiện đi lại và trước giờ không ai tranh chấp. Đồng thời, xe đạp điện không thuộc loại phương tiện bắt buộc phải đăng ký chủ sở hữu nên có căn cứ xác định xe đạp điện nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước do bị cáo đã sử dụng làm phương tiện trong thực hiện tội phạm.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại X thống nhất xác định giá trị xe mà bị cáo chiếm đoạt của ông X là 7.000.000 đồng theo giá trị được Hội đồng định giá xác định và đồng ý bồi thường. Do đó, xét buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông X số tiền 7.000.000 đồng.
[9] Vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên T2 mua xe mô tô biển số 67AE – 034.43 và điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy All, bị cáo khai chỉ quen biết và trao đổi qua mạng xã hội, không biết họ tên, nơi cư trú cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Võ Văn D mua điện thoại Oppo Reno 6 không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không quy kết xử lý hình sự là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Âu Quang Chánh N (Chí C) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Âu Quang Chánh N (Chí C): 04 (bốn) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: 26/01/2024 (Hai sáu, tháng một, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn X số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe đạp điện màu trắng xanh, trên khung sườn có ghi chữ National.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Âu Quang Chánh N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại ông Lê Văn H1 và ông Nguyễn Văn X có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
