Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HSST

Ngày: 23 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mai Hương.

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tặng, bà Bùi Thị Lành và ông Nguyễn Mạnh Huấn.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Hoà - Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 03/7/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 08/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Cao Xuân P, sinh năm:1962; nơi ĐKHKTT: Khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 8/10; con ông Cao Xuân L và bà Chu Thị P1 (đều đã chết); có vợ Trần Thị H; con: Có 02 con lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1990; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 31/7/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/9/2023 đến ngày 23/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Xuân P: Ông Nguyễn Văn T - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có mặt.

2. Lê Thị Bích H1, sinh năm:1991; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Nhà nghỉ S1, tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Bá T1 (đã chết) và con bà Bùi Thị T2; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

  • - Ngày 13/6/2008 bị Toà án nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2009.
  • - Ngày 10/12/2009 bị Chủ tịch UBND thị xã P, tỉnh Hà Nam ra Quyết định đưa đi chữa bệnh tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội tỉnh H đã chấp hành xong ngày 11/12/2011.
  • - Ngày 04/9/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 60 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và tội “Cưỡng đoạt tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2018.
  • - Ngày 09/9/2019 bị Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. H1 chưa nộp tiền phạt nhưng đến nay Quyết định xử phạt hành chính này đã hết thời hiệu thi hành nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/9/2023 đến ngày 23/9/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Bích H1: Ông Nguyễn Đình T3 - Luật sư Công ty L3 - Đoàn luật sư tỉnh H, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Hồ Đình H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Đức P2, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Tổ D, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ E, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Anh Võ Trọng L1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • - Anh Lê Viết T4, sinh năm 2005; nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Bích H1, sinh năm1991; trú tại Tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam có quen biết từ trước với Cao Xuân P, sinh năm 1962; trú tại xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và biết P có bán trái phép ma túy. Khoảng đầu tháng 9/2023 H1 sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0889695820 gọi điện, nhắn tin nhiều lần vào số điện thoại 0967.876.xxx của Phiên hỏi mua ma túy hồng phiến và thỏa thuận H1 sẽ chuyển tiền cho P, sau đó Phiên chuyển số ma túy tương ứng với số tiền đã nhận về cho H1, nếu còn thiếu tiền thì H1 sẽ thanh toán trả sau. Phiên đã cung cấp số tài khoản 5130629272 tại Ngân hàng Đ của anh Hồ Đình H2, sinh năm 1986; trú tại xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là người làm dịch vụ chuyển tiền để H1 chuyển trả tiền mua ma túy. Sau đó vào ngày 13 và 14/9/2023 H1 đã nhiều lần chuyển tiền bằng ví điện tử trên điện thoại di động của H1 cho P qua tài khoản của anh Hồ Đình H2 với tổng số tiền 25.000.000 đồng, anh H2 đã rút tiền mặt đưa cho P. Sáng ngày 15/9/2023, P gửi từ xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An qua xe ô tô khách BKS 37F-000.90 chạy tuyến đường Nghệ An - Bắc Giang đi qua Hà Nam về cho Lê Thị Bích H1 01 bao bưởi, bên trong có ma túy, ngoài vỏ bao có ghi số điện thoại 0889.695.xxx của H1. Sau khi gửi, P sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho H1 với nội dung “Bác gửi bưởi rồi”, kèm theo số điện thoại 0971.560.xxx của nhà xe để H1 liên hệ với nhà xe nhận số ma túy P đã gửi. H1 sử dụng điện thoại di động gọi vào số điện thoại 0971.560.xxx của nhà xe hỏi thời gian xe ô tô đi đến tỉnh Hà Nam và hẹn nhà xe gửi bưởi cho H1 tại ngã ba đèn xanh, đèn đỏ đường Q giao với đường N thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Đến khoảng 12 giờ ngày15/9/2023, H1 bảo anh Nguyễn Đức P2, sinh năm 1980; trú tại Tổ D, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam đang ở cùng H1 tại nhà nghỉ S1, thuộc tổ dân phố B phường C, thành phố P gọi xe ô tô taxi cho H1 đi có việc. Anh P2 đã gọi xe ô tô taxi của anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1976; trú tại Tổ E, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam đến nhà nghỉ S1 chở H1 và anh Phan r chỗ hẹn với xe ô tô khách. Đến nơi, H1 xuống xe đứng cạnh lề đường Quốc lộ 1A đợi xe khách đến, còn anh P2 và anh D vẫn ngồi trong xe taxi. Khoảng 05 phút sau, xe ô tô khách BKS 37F-00090 đi đến và dừng lại, phụ xe Lê Viết T4, sinh năm 2005; trú tại xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An xuống mở cốp dưới gầm xe ô tô lấy chiếc bao tải do P gửi trước đó ra giao lại cho H1. Khi H1 đang ôm bao tải trước bụng để mang lên xe ô tô taxi thì bị lực lượng của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H tiến hành

kiểm tra và đưa đối tượng cùng toàn bộ tang vật về Công an phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam để lập biên bản vụ việc. Vật chứng, đồ vật thu giữ của Lê Thị Bích H1 gồm:

  • - 01 bao tải màu trắng (loại bao tải dứa) không rõ kích thước hình thù, trên thân bao tải có in nhiều chữ và hình màu xanh cùng dòng số và chữ viết tay “0889695820 - Phủ lý” bên trong bao tải có chứa nhiều quả bưởi, trong đó có 01 quả bưởi được khoét rỗng ruột, bên trong cất giấu 01 túi nilon màu vàng, bên trong túi nilon màu vàng có 06 túi linon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng đều có kẹp nhựa, kích thước mỗi túi khoảng (6x10) cm, bên trong mỗi túi đều có chứa 198 viên nén hình trụ tròn màu đỏ. Cơ quan điều tra đã niêm phong 08 túi nilon chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì ký hiệu QT01; niêm phong 01 túi nilon màu vàng trong phong bì ký hiệu QT02; 01 điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng màu hồng, nhãn hiệu Xiaomi, có số IMEI: 99001140546246, bên trong lắp 01 sim Vinaphone, trên sim có dãy số 89840200010730077682, có số thuê bao 0889695820, được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT03.

Thu giữ của anh Nguyễn Đức P2 01 điện thoại di động, vỏ màu đen, nhãn hiệu OPPO, có số IMEI: 860646041797431, bên trong lắp 02 sim Mobiphone, số thuê bao 0933.568.xxx, trên sim có dãy số 8401191112003065 và số thuê bao 0931668586, trên sim có dãy số 8401191112001254, được niêm phong trong phong bì ký hiệu GN01.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu nước tiểu của Lê Thị Bích H1Nguyễn Đức P2 cho vào trong 02 chai nhựa trong suốt niêm phong ký hiệu NT01, NT02 để phục vụ công tác giám định. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Bích H1 tại Phòng 203 nhà nghỉ S1 thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam và thu giữ 01 thẻ Ngân hàng T9 số 4220768682137870 mang tên LE THỊ BICH HANG để trên mặt bàn uống nước kê trong phòng 203.

Căn cứ tài liệu điều tra ban đầu, Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Cao Xuân P tại xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quá trình tiến hành thực hiện lệnh giữ người, lệnh khám xét khẩn cấp Phiên tự giao nộp 01 điện thoại di động, vỏ màu vàng, nhãn hiệu SAMSUNG, có số IMEI: 355726095009966/01, bên trong lắp 01 sim V, có số thuê bao 0967876996, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A3. Ngoài ra không thu giữ đồ vật, tài sản gì khác.

Ngày 15/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định chất ma túy đối với các viên nén hình trụ tròn màu đỏ trong 06 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng được niêm

phong ký hiệu QT01 và chất ma túy trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01, NT02 đã thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 643/KL-KTHS và số 644/KL-KTHS ngày 21/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

  • “- Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 162,005 gam. Loại Methamphetamine”.
  • “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT01, NT02 gửi giám định”.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C giám định dấu vết AND của người trên 01 vỏ túi nilon màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02 xác định kiểu gen và so sánh với kiểu gen tại mẫu niêm mạc thu thập của Cao Xuân P; giám định khôi phục, trích xuất dữ liệu điện tử trên điện thoại đã thu giữ của Lê Thị Bích H1 ký hiệu A1, của anh Nguyễn Đức P2 ký hiệu A2, của Cao Xuân P ký hiệu A3.

Tại bản kết luận giám định số 6870/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của V1 - Bộ C kết luận:

  • “ Trên túi nilon màu vàng được đựng trong phong bì của Công an tỉnh H ký hiệu QT02 có ADN của Cao Xuân P”.

Tại bản kết luận giám định số 7135/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của V1 - Bộ C kết luận:

Trong mẫu vật ký hiệu A1: Tìm thấy 5458 lịch sử cuộc gọi, 12273 danh bạ, 34 tin nhắn SMS, 721 tin nhắn Facebook, 285 tin nhắn Zalo, 152354 tệp ảnh, 2672 tệp video, 3214 tệp âm thanh lưu trữ trong máy điện thoại, 39 danh bạ, 05 tin nhắn SMS lưu trữ trong thẻ SIM. Chi tiết được thể hiện trong thư mục "A1" lưu trữ trong 01 ổ cứng màu đen kèm theo.

Trong mẫu vật ký hiệu A2: Tìm thấy: 686 lịch sử cuộc gọi, 745 danh bạ, 07 tin nhắn SMS, 4044 tệp ảnh, 09 tệp video, 724 tệp âm thanh lưu trữ trong máy điện thoại, 12 danh bạ, 02 tin nhắn SMS lưu trữ trong thẻ SIM có các dãy số 8401191112001254, 04 tin nhắn SMS lưu trữ trong thẻ SIM có các dãy số 8401191112003065. Chi tiết được thể hiện trong thư mục “A2” lưu trữ trong 01 ổ cứng màu đen kèm theo.

Trong mẫu vật ký hiệu A3: Tìm thấy 872 lịch sử cuộc gọi, 512 danh bạ, 823 tin nhắn SMS, 5749 tệp ảnh, 27 tệp video, 57 tệp âm thanh lưu trữ trong máy điện thoại, 65 danh bạ, 17 tin nhắn SMS lưu trữ trong thẻ SIM. Chi tiết được thể hiện trong thư mục “A3” lưu trữ trong 01 ổ cứng màu đen kèm theo.

Không trích xuất được dữ liệu trong tài khoản ngân hàng S2 được cài đặt trên mẫu vật ký hiệu A1 do không có mật khẩu truy cập.

Không trích xuất được dữ liệu trong tài khoản ngân hàng T9 được cài đặt trên mẫu vật ký hiệu A2 do không có mật khẩu truy cập.

Không tìm thấy tài khoản ngân hàng được cài đặt trên mẫu vật ký hiệu A3”.

Tiến hành kiểm tra, khai thác các cuộc gọi và tin nhắn trên điện thoại di động thu giữ của Lê Thị Bích H1Cao Xuân P xác định: Từ ngày 05/9/2023 đến ngày 15/9/2023 tại lịch sử cuộc gọi có nhiều cuộc gọi đi, gọi đến, giữa số thuê bao 0967876996 của Cao Xuân P và số thuê bao 0889695820 của Lê Thị Bích H1. Tại mục tin nhắn thể hiện các tin nnắn qua lại giữa hai số thuê bao này. Cụ thể: Nội dung các tin nhắn từ số máy của H1 đến số máy của P vào hồi 17 giờ 32 phút ngày 03/9/2023 “Bác ơi cháu chuyển bao nhiêu bác gửi bấy nhiêu cao”; hồi 4 giờ 35 ngày 10/9/2023 “Nay chau chuyển cho bác lấy 5 nhưng tài khoản của”; hồi 10 giờ 17 phút ngày 12/9/2023 “Vâng bác. cháu chuyển được cháu gọi ạ. cháu để riêng 3”, hồi 10 giờ 31 phút 48 giây, 19 giờ 41 phút ngày 12/9/2023 “cháu vừa chuyển 9 triệu rưỡi đó bác T5 hạn mức nên”, “Lát cháu chuyển thêm.sang mai bác xem giúp cháu ba”; hồi 5 giờ 41 phút 55 giây ngày 14/9/2023 “Cháu chuyển thêm 15 triệu rưỡi rồi đó bác”. Các tin nhắn từ số máy của P đến số máy của H1 hồi 17 giờ 32 phút ngày 03/9/2023 có nội dung “Gửi gạo vs bưởi nghe cháu”, hồi 4giờ 35 ngày 10/9/2023 có nội dung “5130629272 bidv ho dinh hoa”, hồi 5 giờ 41 phút ngày 15/9/2023 có nội dung “Bac gui buoi roi sđt 0971.560.xxx”, H1P khai nhận đây là cuộc gọi và tin nhắn trao đổi về việc mua, bán trái phép chất ma túy giữa H1P.

Về nguồn gốc 162,005 gam ma túy Methamphetamine thu giữ trong vụ án, Cao Xuân P khai đã mua toàn bộ số ma túy này của người đàn ông tên T6 nhà ở xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An với giá 4.000.000đ/01 túi bán lại cho H1 với giá 5.000.000đ/01 túi. Sau khi mua số ma túy trên đã được T6 để trong bao tải bưởi, P gửi bao bưởi đó về cho Lê Thị Bích H1 qua xe ô tô khách chạy tuyến huyện Q, tỉnh Nghệ An đi tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang chạy qua địa bàn tỉnh Hà Nam. Theo lời khai Phiên thì T6 khoảng 22-23 tuổi, cao khoảng 1,60 mét, da đen, không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể của T6 ở đâu, làm gì.Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định trên địa bàn xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An không có đối tượng nào tên là T6 có đặc điểm nhận dạng như P khai. Ngoài lời khai của P không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ.

Cáo trạng số 50/CT-VKSHN-P1 ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Cao Xuân P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Thị

Bích H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Xuân P; điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị Bích H1; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 đối với Phiên, điểm s khoản 1 Điều 51 đối với H1; Điều 17, Điều 35, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Xử phạt: Bị cáo Cao Xuân P 20 năm tù; bị cáo Lê Thị Bích H1 từ 18 (Mười tám) năm 06 (Sáu) tháng đến 19 (Mười chín) năm 06 (S) tháng tù; phạt bổ sung bị cáo Cao Xuân P từ 10 triệu đến 20 triệu đồng, bị cáo Lê Thị Bích H1 từ 5 triệu đến 10 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam còn đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo.

Luật sư Nguyễn Văn T bào chữa cho bị cáo Cao Xuân P và Luật sư Nguyễn Đình T3 bào chữa cho bị cáo Lê Thị Bích H1 đều nhất trí về tội danh và điều khoản như Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo; tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Các bị cáo Cao Xuân PLê Thị Bích H1 đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với bản bào chữa của Luật sư và đều đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt chính và xem xét về hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi của bản thân đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp, kết luận giám định về chất ma tuý và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ

vụ án, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 9/2023 đến ngày 14/9/2023, Lê Thị Bích H1 sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0889695820 nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho Cao Xuân P qua số điện thoại 0967.876.xxx hỏi mua ma túy hồng phiến để sử dụng. H1 đã nhiều lần chuyển tiền qua dịch vụ chuyển tiền của anh Hồ Đình H2 tổng cộng 25.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy cho P. Sáng ngày 15/9/2023, P gửi qua xe ô tô khách BKS 37F-000.90 chạy tuyến đường N - Bắc Giang đi qua địa phận tỉnh Hà Nam cho Lê Thị Bích H1 01 bao tải đựng bưởi, bên trong 01 quả bưởi có chứa 08 túi ma túy loại Methamphetamine với tổng khối lượng 162,005 gam. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày tại tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Lê Thị Bích H1 vừa nhận từ nhà xe bao tải đựng bưởi bên trong có chứa số ma túy nêu trên thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh H bắt giữ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Cao Xuân P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Thị Bích H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Thời gian gần đây, các tội phạm về ma tuý diễn biến phức tạp, mức độ ngày càng nghiêm trọng, với những thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, mạnh động. Vì vậy, phải xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Cao Xuân P đã có một tiền án nhưng chưa được xoá án tích, bị cáo Lê Thị Bích H1 có nhân thân rất xấu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cao Xuân P có một tiền án nhưng chưa được xoá án tích lại phạm tội mới. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Cao Xuân P có chú ruột là ông Cao Xuân L2 được tặng thưởng Huân chương chiến công và ông Cao Xuân M được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Cao Xuân P mua bán trái phép ma tuý nhằm thu lời bất chính, vì vậy cần phải phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Thị Bích H1 tàng trữ ma tuý

với số lượng lớn, vì vậy cần phải phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[5]. Các vấn đề khác:

  • - Đối với anh Hồ Đình H2 là người làm dịch vụ chuyển tiền được Cao Xuân P nhiều lần nhờ nhận hộ Phiên tiền được chuyến qua tài khoản của anh H2, sau đó anh H2 đã rút tiền mặt trả cho P. Kiểm tra sao kê tài khoản ngân hàng số 5130629272 của anh Hồ Đình H2 tại Ngân hàng Đ xác định trong hai ngày 13 và 14/9/2023 tài khoản này nhận được số tiền 2.500.000 đồng và 13.000.000 đồng chuyển từ số điện thoại của Lê Thị Bích H1, có ghi nội dung “cháu hằng chuyển tiền cho bác phiên”. Kết quả điều tra xác định anh H2 không biết ai là người chuyển tiền cho P, mục đích chuyển tiền để làm gì và không biết việc P giao dịch mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với anh H2.
  • - Đối với anh Nguyễn Đức P2 là người đã gọi xe ô tô taxi đến chở và đi cùng Lê Thị Bích H1 từ nhà nghỉ S1 ra Quốc lộ A để H1 nhận ma túy từ xe khác, tài liệu điều tra xác định anh P2 không biết và không tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy giữa PH1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
  • - Đối với anh Nguyễn Văn D, là người lái taxi chở Lê Thị Bích H1Nguyễn Đức P2 từ nhà nghỉ S1 ra Quốc lộ A, tài liệu điều tra xác định anh D là người chở khách thuê và hoàn toàn không biết gì về việc mua bán trái phép chất ma túy của H1 nên không có căn cứ để cơ quan điều tra xử lý trong vụ án này.
  • - Đối với anh Lê Viết T4 và anh Võ Trọng L1 đều là phụ xe ô tô khách BKS 37F-000.90 chạy tuyến Nghệ An- Bắc Giang, tài liệu điều tra xác định khi nhận bao tải đựng bưởi từ Cao Xuân P và giao lại cho H1, cả hai đều không biết bên trong có ma túy nên không có căn cứ để Cơ quan điều tra xem xét xử lý.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01(Một) phong bì niêm phong số 643/KTHS là “Mẫu vật hoản trả QT01”, tại phần mép dán mặt sau có 02 (Hai) chữ ký, các dòng chữ ghi Đỗ Thị Hồng H3, Bùi Đình T7 cùng 03 (Ba) dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh H, tình trạng phong bì niêm phong dán kín, nguyên vẹn. 01 (Một) phong bì niêm phong, tại phần mép dán mặt sau gồm có 03 (Ba) chữ ký, các dòng chữ ghi Đỗ Đức QNguyễn Thanh T8 cùng 03 (Ba) dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C, tình trạng phong bì niêm phong dán kín, nguyên vẹn. 01 (Một) bao tải màu trắng loại bao tải dứa không rõ kích thước hình thù, trên bao tải có in nhiều chữ và hình màu xanh, có viết dòng số và chữ “0889695820 - Phủ lý” và 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong các điện thoại trên được Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam tiến hành mở niêm phong, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01(Một) thẻ Ngân hàng T10 số 4220768682137870 mang tên Lê Thị Bích H1 không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 (Một) điện thoại di động, vỏ màu đen, nhãn hiệu OPPO thu giữ của Nguyễn Đức P2, tình trạng điện thoại đã cũ không liên quan đến vụ án cần trả lại cho anh Nguyễn Đức Phan .
  • - Đối với 01 (Một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu hồng, nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của Lê Thị Bích H1, 01 (Một) điện thoại di động, vỏ màu vàng, nhãn hiệu SAMSUNG thu giữ của Cao Xuân P, tình trạng điện thoại đã cũ, các bị cáo dùng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8]. Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Xuân P; điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị Bích H1; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo PH1.

  1. Tuyên bố bị cáo Cao Xuân P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Thị Bích H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Xử phạt:
    • - Bị cáo Cao Xuân P 20 (Hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/9/2023.
    • - Bị cáo Lê Thị Bích H1 18 (Mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/9/2023.
  3. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Cao Xuân PLê Thị Bích H1 mỗi bị cáo 5.000.000 đồng (Năm) triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) phong bì niêm phong số 643/KTHS là “Mẫu vật hoản trả QT01”. Tại phần mép dán mặt sau có 02 (Hai) chữ ký, các dòng chữ ghi Đỗ Thị Hồng H3, Bùi Đình T7 cùng 03 (Ba) dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H, tình trạng phong bì niêm phong dán kín, nguyên vẹn. 01 (Một) phong bì niêm phong, tại phần mép dán mặt sau gồm có 03 (Ba) chữ ký, các dòng chữ ghi Đỗ Đức QNguyễn Thanh T8 cùng 03 (Ba) dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C, tình trạng phong bì niêm phong dán kín, nguyên vẹn. 01 (Một) bao tải màu trắng loại bao tải dứa không rõ kích thước hình thù, trên bao tải có in nhiều chữ và hình màu xanh, có viết dòng số và chữ “0889695820 - Phủ lý” và 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong các điện thoại trên được Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam tiến hành mở niêm phong.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu hồng, nhãn hiệu Xiaomi thu giữ của Lê Thị Bích H1. 01 (Một) điện thoại di động, vỏ màu vàng, nhãn hiệu SAMSUNG thu giữ của Cao Xuân P, tình trạng điện thoại đã cũ.
    • - Trả lại anh Nguyễn Đức P2: 01 (Một) điện thoại di động, vỏ màu đen, nhãn hiệu OPPO thu giữ của Nguyễn Đức P2, tình trạng điện thoại đã cũ.
    • - Trả lại cho bị cáo Lê Thị Bích H1 01(Một) thẻ Ngân hàng T10 số 4220768682137870 mang tên Lê Thị Bích H1.

    Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Cao Xuân PLê Thị Bích H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 48/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: rong khoảng thời gian từ đầu tháng 9/2023 đến ngày 14/9/2023, Lê Thị Bích H1 sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0889695820 nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho Cao Xuân P qua số điện thoại 0967876996 hỏi mua ma túy hồng phiến để sử dụng. H1 đã nhiều lần chuyển tiền qua dịch vụ chuyển tiền của anh Hồ Đình H2 tổng cộng 25.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy cho P. Sáng ngày 15/9/2023, P gửi qua xe ô tô khách BKS 37F-000.90 chạy tuyến đường N - Bắc Giang đi qua địa phận tỉnh Hà Nam cho Lê Thị Bích H1 01 bao tải đựng bưởi, bên trong 01 quả bưởi có chứa 08 túi ma túy loại Methamphetamine với tổng khối lượng 162,005 gam. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày tại tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Lê Thị Bích H1 vừa nhận từ nhà xe bao tải đựng bưởi bên trong có chứa số ma túy nêu trên thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh H bắt giữ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger