Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc


Bản án số: 48/2024/HSST

Ngày: 20/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Nhưng
  2. Bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/XXHSST – HS, ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đình Q; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 11 tháng 01 năm 1985, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; con ông: Hoàng Đình D, sinh năm: 1962; con bà: Hoàng Thị T, sinh năm: 1963; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1987; con: Có 02 con, đứa lớn sinh năm 2012; đứa nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Hoàng Đình Q bị tạm giữ từ ngày 25/6/2024 đến ngày 03/7/2024 bị khởi tố bị cáo, áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K cho đến ngày 26/9/2024 được áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh về tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.

Bị hại:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Bà Nguyễn Thị Thu H – sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Kinh doanh (Vắng mặt- Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị B- sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do.(Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Tiến Đ- sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Cán bộ quân đội.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Đình Q và chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh đều đã có gia đình, nhưng khoảng đầu năm 2022, hai người có phát sinh tình cảm yêu thương nhau, nên thường xuyên nhắn tin qua mạng xã hội Z và cùng nhau đi chơi, chụp ảnh chung rồi lưu vào trong điện thoại di động của Hoàng Đình Q làm kỷ niệm. Đến khoảng đầu năm 2023, nhận thấy mối quan hệ này không phù hợp nên chị H chủ động chấm dứt mối quan hệ tình cảm với Hoàng Đình Q, nhưng Q không đồng ý. Tiếp đó vào cuối năm 2023, do bức xúc vì chị H chủ động chấm dứt tình cảm với mình, nên Hoàng Đình Q nảy sinh ý định sử dụng những hình ảnh được chụp lại khi đi chơi cùng với chị H lưu trong điện thoại di động của Q và các tin nhắn trò chuyện giữa Q và chị H, để đe dọa chiếm đoạt tài sản của chị H chi tiêu cá nhân. Để chiếm đoạt được tài sản của chị H, Hoàng Đình Q nói dối với chị H, trong một lần đi khám bệnh tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh Q đã làm rơi chiếc điện thoại của mình, trong đó có lưu giữ liệu hình ảnh và tin nhắn yêu thương giữa hai người nhắn tin cho nhau. Để tạo lòng tin với chị H về lời nói của mình là sự thật, Q sử dụng sim điện thoại số 0947.757.xxx của mình tự soạn các tin nhắn với nội dung một người đàn ông ở thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nhặt được chiếc điện thoại của Q rồi mở máy lên thấy trong máy điện thoại của Q có lưu giữ hình ảnh và tin nhắn yêu thương giữa hai người, nhắn tin cho Q vào số điện thoại 0979.499.xxx và đe dọa yêu cầu Q chuyển cho người đàn ông này số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) thì người này sẽ trả lại chiếc điện thoại cho Q. Sau đó, Q chụp ảnh màn hình các nội dung tin nhắn này gửi cho chị H biết. Đồng thời, trong thời gian này, Hoàng Đình Q sử dụng sim điện thoại số 0947.757.xxx, đăng ký tài khoản Zalo có tên hiển thị “Lính thông tin” nhắn tin vào tài khoản Zalo “Thu Hiền” của chị H, nói dối là người đàn ông ở thành phố H, nhặt được chiếc điện thoại bên trong có lưu giữ liệu hình ảnh và tin nhắn yêu thương giữa hai người rồi nhắn tin đe dọa, yêu cầu chị H đưa 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) thì sẽ trả lại chiếc điện thoại, nếu không thì sẽ gửi các hình ảnh giữa chị H và Q chụp chung với nhau có trong điện thoại cùng với các tin nhắn yêu thương giữa hai người cho chồng của chị H là anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, Hà Tĩnh biết. Sau khi

nhận được tin nhắn từ Zalo có tên hiển thị “Lính thông tin”, chị H liên lạc với Q để hỏi sự việc thì Q giả vờ mình cũng bị đe dọa yêu cầu đưa tiền. Sau đó Q thỏa thuận với chị H, Q sẽ bỏ ra số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) còn chị H bỏ ra số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đưa cho người đàn ông này chuộc lại máy điện thoại bị mất, sau đó Q cung cấp số tài khoản số 0031000329007 của Q mở tại ngân hàng V để chị H chuyển tiền vào cho Q, tuy nhiên chị H không đồng ý. Sau nhiều lần bị Hoàng Đình Q nhắn tin đe dọa và sợ mối quan hệ tình cảm yêu thương nhau với Q bị chồng biết, nên trong khoảng thời gian từ ngày 19/12/2023 đến ngày 18/01/2024 chị H đã 03 (Ba) lần chuyển tiền cho Q cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất: Vào lúc 16 giờ 52 phút ngày 19/12/2023, chị Nguyễn Thị Thu H sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển vào tài số tài khoản 0031000329007 của Hoàng Đình Q số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

+ Lần thứ hai: Vào lúc 17 giờ 53 phút ngày 30/12/2023, chị Nguyễn Thị Thu H sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển vào tài số tài khoản 0031000329007 của Hoàng Đình Q số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

+ Lần thứ ba: Vào lúc 21 giờ 15 phút ngày 18/01/2024, chị Nguyễn Thị Thu H sử dụng phần mềm Bankplus trên điện thoại di động chuyển vào tài số tài khoản 0031000329007 của Hoàng Đình Q số tiền 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng), rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.

Tổng cộng Hoàng Đình Q đã 03 (Ba) lần, đe dọa yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H chuyển tiền vào tài khoản 0031000329007 do Hoàng Đình Q cung cấp, chiếm đoạt với tổng số tiền là 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng), lấy chi tiêu cá nhân.

Sau khi chuyển tiền xong, nghi ngờ Hoàng Đình Q là người nói dối bị mất điện thoại và giả danh Zalo “Lính thông tin” để chiếm đoạt tài sản của mình, nên ngày 22/6/2024, chị Nguyễn Thị Thu H làm đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh tố giác về hành vi chiếm đoạt tài sản của Hoàng Đình Q. Tiếp đó ngày 25/6/2024, Hoàng Đình Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ các vật chứng gồm:

  • - 01 (Một) thẻ nhớ nhãn hiệu SANDISK, dung lượng 04GB (Có chứa dữ liệu bên trong) và 01 (Một) tờ giấy kẻ ngang A4, có dòng chữ bằng mực màu xanh ghi, chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5, màu đen, số IMEI1: 865545054816614, số IMEI 2: 865545054816606, bên trong gắn sim số 0979499086 đã qua sử dụng, đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Tại bản Cáo trạng số 49/CT- VKSKA ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Đình Q về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hoàng Đình Q từ 14 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tam giữ, tạm giam 25/6/2024 đến ngày 26/9/2024

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tich thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5, màu đen, số IMEI1: 865545054816614, số IMEI 2: 865545054816606

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Đình Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 10.700.000 đồng (Muời triệu bảy trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng) mà trong quá trình điều tra chị Nguyễn Thị T1 (Vợ của bị cáo) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, theo biên lai số 0002267 ngày 16/9/2024.

Chị Nguyễn Thị Thu H được nhận tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh số tiền 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo: Buộc bị cáo Hoàng Đình Q Phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sư.

Bị cáo không ai có tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát

Lời nói sau cùng của bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do bực tức chị Nguyên Thị Thu H1, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố Q, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, chủ động chấm dứt mối quan hệ tình cảm với mình, nên Hoàng Đình Q nảy sinh ý định sử dụng các hình ảnh trước đó đi chơi cùng với chị H1 chụp lại lưu trong điện thoại di động của Q và các tin nhắn trò chuyện giữa hai người rồi nhắn tin đe dọa chị H1, từ đó trong khoảng thời gian từ ngày 19/12/2023 đến ngày 18/01/2024, Hoàng Đình Q đã 03 (Ba) lần yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu H chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S mở tại ngân hàng V chiếm đoạt với tổng số tiền 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng). Trong vụ án này chỉ có một mình Hoàng Đình Q thực hiện hành vi phạm tội

Hành vi của Hoàng Đình Q cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[3]. Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi sử dụng các hình ảnh, thông tin cá nhân thuộc bí mật đời tư để đe dọa uy hiếp tinh thần, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền 10.700.000₫ của Nguyễn Đình Q1 là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Đình Q phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Đình Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú và gia đình có hoàn cảnh khó khăn được UBND xã K xác nhận, theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự.

Vì vậy cần áp dụng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cũng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 1.000.000đ đến 100.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Đối với các vấn đề liên quan:

Đối với hành vi gửi các hình ảnh chụp chung, các đoạn tin nhắn giữa bị caáo và chị Nguyễn Thị Thu H. Quá trình điều tra làm rõ các hình ảnh chụp chung chỉ thể hiện khuôn mặt chung, ảnh chân dung của bị cáo với chị H, nội dung tin nhắn chỉ thể hiện việc nói chuyện thân mật riêng tư giữa hai người, không có tính xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xem xét xử lý hình sự về hành vi "Làm nhục người khác" là đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình, bị cáo Hoàng Đình Q có sử dụng điện thoại di động có gắn số thuê bao 0705926171 của chị Nguyễn Thị B, trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tinh để sử dụng, chị Nguyễn Thị B không biết Q sử dụng điện thoại để nhắn tin đe dọa chị H. Trước đó giữa chị B và Hoàng Đình Q cũng không thống nhất bàn bạc gì về việc này nên chị Nguyễn Thị B không đồng phạm với Hoàng Đình Q về tội “Cưỡng đoạt tài sản”

[6]. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ các vật chứng sau:

  • - 01 (Một) thẻ nhớ nhãn hiệu SANDISK, dung lượng 04GB (Có chứa dữ liệu bên trong) và 01 (Một) tờ giấy kẻ ngang A4, có dòng chữ bằng mực màu xanh ghi, chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5, màu đen, số IMEI1: 865545054816614, số IMEI 2: 865545054816606. Hội đồng xét xử xét thấy vật chứng nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo. Do đó cẩn tich thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5, màu đen, số IMEI1: 865545054816614, số IMEI 2: 865545054816606, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại chị Nguyễn Thị Thu H yêu cầu bị cáo Hoàng Đình Q bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 10.700.000 đồng (Muời triệu bảy trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thây yêu cầu của bị hại là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Vì vậy áp dung Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật dân sự bị cáo Hoàng Đình Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 10.700.000 đồng (Muời triệu bảy trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng) mà trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, tuy nhiên bị hại không hợp tác để bồi thường, nên ngày 16/9/2024, chị Nguyễn Thị T1 (Vợ của bị cáo) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh số tiền 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng), theo biên lai số 0002267 ngày 16/92024, để bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thị Thu H.

Chị Nguyễn Thị Thu H được nhận tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh số tiền 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng).

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
  • Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;
  • Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự;
  • Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo;

Tuyên bố bị cáo: Hoàng Đình Q phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”

Xử phạt Hoàng Đình Q 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian tam giữ, tạm giam từ 25/6/2024 đến ngày 26/9/2024

Về vật chứng vụ án: Tich thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5, màu đen, số IMEI1: 865545054816614, số IMEI 2: 865545054816606

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Đình Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 10.700.000 đồng (Muời triệu bảy trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng) mà trong quá trình điều tra chị Nguyễn Thị T1 (Vợ của bị cáo) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, theo biên lai số 0002267 ngày 16/9/2024.

Chị Nguyễn Thị Thu H được nhận tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh số tiền 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng).

Về án phí: Xử buộc Hoàng Đình Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sư.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKT;
  • - Phòng PC81;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Trại tạm giam;
  • - CA huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 48/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đình Q phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger